Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

Lăng Khải Định

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lăng Khải Định
Grave khai dinh.jpg
Ứng Lăng
Tên gọi: Lăng Khải Định
Người tạo nên: Khải Định






Vị trí: Quần thể di tích cố đô Huế





Lăng Khải Định (còn gọi là Ứng Lăng) là lăng mộ của vua Khải Định (1885-1925), vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế. 
Chuẩn bị xây
VN Hue6 tango7174.jpg
Nghệ thuật ghép sành sứ tại Khải Định lăng
 
Khải Định lên ngôi năm 1916 ở tuổi 31. Ngay sau khi lên ngôi, ông đã cho xây dựng nhiều cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc như điện Kiến Trung, cung An Định, cửa Trường An, cửa Hiển Nhơn, cửa Chương Đức, đặc biệt là Ứng Lăng.
Để xây dựng sinh phần cho mình, Khải Định đã tham khảo nhiều tấu trình của các thầy địa lý cuối cùng đã chọn triền núi Châu Chữ làm vị trí để xây cất lăng mộ. Ở vị trí này, lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án; lấy núi Chóp VungKim Sơn chầu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”; có khe Châu Ê chảy từ trái qua phải làm “thủy tụ”, gọi là “minh đường”. Nhà vua đổi tên núi Châu Chữ - vừa là hậu chẩm, vừa là “mặt bằng” của lăng - thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo tên núi là Ứng Lăng.

Xây dựng

Lăng khởi công ngày 4 tháng 9 năm 1920 do Tiền quân Đô thống phủ Lê Văn Bá là người chỉ huy và kéo dài suốt 11 năm mới hoàn tất. Tham gia xây dựng lăng có rất nhiều thợ nghề và nghệ nhân nổi tiếng khắp cả nước như Phan Văn Tánh, Nguyễn Văn Khả, Ký Duyệt, Cửu Sừng... Để có kinh phí xây dựng lăng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ cho phép ông tăng thuế điền 30% trên cả nước và lấy số tiền đó để làm lăng. Hành động này của Khải Định đã bị lịch sử lên án gay gắt[cần dẫn nguồn].
So với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Định có diện tích rất khiêm tốn hơn: 117 m × 48,5 m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian. Để xây lăng, Khải Định cho người sang Pháp mua sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise..., cho thuyền sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu... để kiến thiết công trình.

Kiến trúc

Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi cái mới, cái lạ, cái độc đáo, cái ngông nghênh, lạc lõng... tạo ra từ phong cách kiến trúc.
Về tổng thể, lăng là một khối hình chữ nhật vươn lên cao có 127 bậc cấp. Sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique... đã để lại dấu ấn trên những công trình cụ thể:
  • Những trụ cổng hình tháp ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ;
  • Trụ biểu dạng stoupa của Phật giáo;
  • Hàng rào như những cây thánh giá khẳng khiu;
  • Nhà bia với những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể...
Điều này là kết quả của hai yếu tố: sự giao thoa văn hóa Đông - Tây trong buổi giao thời của lịch sử và cá tính của Khải Định.

Cung Thiên Định

Bửu tán, tượng nhà vua ở trên và mộ phần ở dưới trong cung Thiên Định
 
Cung này ở vị trí cao nhất là kiến trúc chính của lăng, được xây dựng công phu và tinh xảo. Toàn bộ nội thất trong cung đều được trang trí những phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh. Đó là những bộ tranh tứ quý, bát bửu, ngũ phúc, bộ khay trà, vương miện... kể cả những vật dụng rất hiện đại như đồng hồ báo thức, vợt tennis, đèn dầu hỏa... cũng được trang trí nơi đây. Công trình này gồm 5 phần liền nhau:
  • Hai bên là Tả, Hữu Trực Phòng dành cho lính hộ lăng;
  • Phía trước là điện Khải Thành, nơi có án thờ và chân dung vua Khải Định;
  • Chính giữa là bửu tán, pho tượng nhà vua ở trên và mộ phần phía dưới;
  • Trong cùng là khám thờ bài vị của vua.
Bên dưới bửu tán là pho tượng đồng của Khải Định được đúc tại Pháp năm 1920, do 2 người Pháp là P. Ducing và F. Barbedienne thực hiện theo yêu cầu của vua Khải Định. Thi hài nhà vua được đưa vào dưới pho tượng bằng một toại đạo dài gần 30 m, bắt đầu từ phía sau Bi Đình. Phía sau ngôi mộ, vầng mặt trời đang lặn như biểu thị cái chết của vua.
Người chịu trách nhiệm chính trong việc kiến tạo những tuyệt tác nghệ thuật trong lăng Khải Định là nghệ nhân Phan Văn Tánh, tác giả của 3 bức bích họa “Cửu long ẩn vân” lớn vào bậc nhất Việt Nam được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định.

 Hình ảnh

 

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

Chiêm ngưỡng ông già thổi hồn vào vật vô tri

(Bee.net.vn) - Từ những vật vô tri không có giá trị được người ta vất bỏ nhưng với ông đó là những thứ quý giá vô cùng. Bằng đôi tay tài hoa, ông Nguyễn Đình Hoa ở Khu phố 3, phường 3, thị xã Quảng Trị, Quảng Trị đã biến những gốc tre, gốc cây… trở thành vật có giá trị.
Năm nay đã bước sang cái tuổi 78 nhưng mỗi lần nghe ở đâu mở đường, làm nhà, giải toả mặt bằng... là ông Hoa lại có mặt nhặt lấy những gốc tre, gốc cây…, sau khi phơi khô ông thổi hồn vào và tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị.
Lúc nhỏ ông ham mê vẽ tranh nhưng vì chiến tranh nên gác lại niềm đam mê nghệ thuật. Lúc về già ông cùng gia đình trở về quê hương thành cổ Quảng Trị, hàng ngày ông lại kiếm tìm, gửi hồn mình vào những gốc tre vô tri vô giác, vẽ tranh, ghép tranh bằng ốc.
Bằng tài năng của mình ông tạo ra hàng trăm tác phẩm đem bán thu tiền triệu nhưng ông không bán. Bạn bè đến chơi, ai thích con nào là ông biếu con đó. 
Từ những thứ ngổn ngang, lấm lem bùn đất, xù xì, không có hình thù gì, ông Hoa cẩn thận phân chia theo nhóm rồi kỳ cọ, đánh rửa rồi đục đẽo tạo ra sản phẩm.
PV Bee ghi lại những tác phẩm của ông già thổi hồn vào vật vô tri:
Những chiếc đục, chiếc dùi nhỏ to tự tạo bày la liệt trên sàn cùng ngổn ngang những gốc tre làm dở...
Từ những vật vô tri được người ta vứt bỏ và không có hình thù gì, ông Hoa cẩn thận phân chia theo nhóm rồi kỳ cọ, đánh rửa tạo ra sản phẩm có giá trị
Những gốc tre lem luốc bùn đất, xù xì, gốc tre cụt ngủn, gốc tre đất chốc trở thành con công
Một đôi chim giống như thật
Phụng
Rồng
Hạc đậu trên rùa
Tác phẩm "Hạnh phúc sum vầy"
Thân cò
Tác phẩm "Quê nội" được ghép từ vỏ ốc biển
Bằng vốn tài năng của mình ông tạo ra hàng trăm tác phẩm đem bán thu tiền triệu nhưng với ông sáng tạo không nhằm mục đích kinh doanh. Bạn bè đến chơi, ai thích con nào là ông biếu con đó
                                                                                                   Sơn Thủy

Lòng hiếu học của một cô bé nghèo

Đến thôn Xuân Lâm, Triệu Nguyên (Đakrông, Quảng Trị), ai cũng tấm tắc ngợi khen tấm gương cô học trò nghèo hiếu học tên Đỗ Thị Hương. Hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn nhưng em đã vươn lên đạt thành tích cao trong học tập và thi đỗ đại học để thực hiện ước mơ trở thành cô giáo. 

Sinh ra trong một gia đình đông anh em ở vùng quê nghèo của huyện miền núi Đakrông, cuộc sống gia đình túng thiếu ngay từ khi em cất tiếng khóc chào đời. Ngoài 3 sào ruộng khoán, ba mẹ Hương phải làm thêm đủ nghề để đổi lấy ngày ba bữa cơm no cho cả gia đình. Gia đình nghèo, cũng đồng nghĩa với sự học của 4 anh em Hương đứt đoạn, anh và chị Hương đành giã từ giấc mơ ngồi trên ghế nhà trường để phụ ba mẹ kiếm kế mưu sinh và nuôi 2 em nhỏ ăn học. 

Vào một ngày định mệnh đầu năm 2009, tai họa chợt ập xuống gia đình Hương, ba em bị tai nạn khi đang đi kiếm mây trong rừng (bị gỗ sập đè ngang người dẫn đến gãy cột sống). Nhà nghèo, để có tiền chạy chữa cho ba, mẹ Hương đã nén nước mắt bán đi căn nhà tổ tiên để lại. 

Từ ngày đó, chái bếp ọp ẹp trở thành chỗ tránh nắng mưa của gia đình Hương. Không còn nhà, ba Hương bị liệt nửa người, mất hoàn toàn khả năng lao động, các món nợ chồng chất, gánh nặng áo cơm đè nặng lên vai mẹ và chị em Hương, bữa cơm no đều đặn hàng ngày trở thành ước mơ xa vời đối Hương và gia đình. 

“Nhìn cảnh gia đình quá cơ cực, đã hơn một lần em nghĩ đến việc bỏ học, cùng anh chị giúp mẹ bớt đi gánh nặng trên vai. Nhưng trước sự động viên của gia đình, bạn bè, thầy cô, em càng cố gắng quyết tâm học để không phụ lòng mọi người”, Hương tâm sự với chúng tôi. 

Trước tấm lòng của ba mẹ và anh chị, Hương quyết tâm học thật giỏi, ngoài một buổi đến trường, thời gian còn lại Hương cùng anh chị làm mọi việc, từ mò cua bắt ốc dưới suối đến kiếm củi trên rừng, hay theo mẹ vào rừng hái măng, tìm mây về bán. 

Đêm đêm, trong chái bếp nhỏ hẹp, cô bé vẫn chăm chỉ học bài đến canh khuya. Không có tiền mua sách vở tài liệu như bạn bè cùng trang lứa, Hương thường luân phiên mượn sách của các bạn rồi chép lại những bài văn hay, bài toán khó để giải tham khảo. Điều gì thắc mắc hay chưa hiểu thấu đáo, tranh thủ giờ ra chơi em hỏi thêm bạn bè, cô giáo. Lớp luyện thi đại học của Hương là những giờ nghỉ giải lao bên luống đất cày dở, buổi trưa hái măng ở lại trong rừng, những bài toán khó, câu văn hay luôn được em nhẩm kỹ trong khi mò cua bắt ốc. 

Bao cố gắng của cô bé nghèo Đỗ Thị Hương rồi cũng được đền đáp. Trong kỳ thi đại học vừa qua, em đã đỗ vào ngành Mầm non. Trường ĐHSP Huế. Cánh cửa đại học đang mở rộng với Hương, giấc mơ làm cô giáo ấp ủ lâu nay của em đã trở thành hiện thực nhưng Hương cũng rất lo lắng vì 4 năm học đại học là một khoảng thời gian dài với nhiều chi phí tốn kém, hoàn cảnh gia đình em thì quá khó khăn. Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội, nhất là chương trình “Tiếp sức đến trường”, Hương đã đặt chân đến với giảng đường đại học, trở thành tân sinh viên Trường ĐHSP Huế. 

Chia sẻ về những dự tính trong tương lai, Hương cho biết: “Để không phụ lòng cha mẹ và sự kỳ vọng của mọi người, em sẽ quyết tâm học thật tốt, đạt thành tích cao nhất trong quá trình học đại học. Để đỡ đần bớt khó khăn cho gia đình, em đang tìm hiểu một số trung tâm gia sư để đi dạy thêm “. 

Dẫu phía trước còn nhiều khó khăn nhưng với ý chí và nghị lực của Hương, chúng tôi tin em sẽ vượt qua, trở thành cô giáo giỏi, tiếp tục dẫn dắt con chữ cho những học trò nghèo như ước mơ của em.
 
                               LỆ NHƯ

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2010

Hà Nội cờ hoa mừng 1.000 năm tuổi

Các tuyến phố Hà Nội như đẹp hơn lên bởi cờ và hoa chào mừng thủ đô thân yêu của chúng ta 1.000 năm tuổi.


Tạ Hoàng Long

Khai mạc đại lễ 1000 năm Thăng Long

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cùng các lão thành cách mạng đi trước hàng danh dự.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng Đặng Thị Nhung là khách mời của lễ khai mạc.
Tham dự lễ khai mạc sáng nay là hàng nghìn người dân.
Màn thả chim bồ câu từ một quả cầu hình trái đất, thể hiện mong muốn hòa bình của người dân thủ đô.
Ca sĩ Trọng Tấn mở đầu chương trình văn nghệ chào mừng đại lễ sáng nay.
Màn múa, hát của những thiếu nữ Hà thành.
Tái hiện một thời lịch sử hào hùng của Hà Nội với những cảm tử quân.
Múa rồng.
Hoàng Hà

Từ Luy Lâu - Long Biên đến Thăng Long - Hà Nội

Luy Lâu ở đâu và vì sao lại trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của nước ta trong suốt thời Bắc thuộc để rồi sau nhường vai trò này cho Thăng Long - Hà Nội thời độc lập - tự chủ?
Chùa Dâu nằm trong trung tâm Phật giáo Luy Lâu xưa.
Chùa Dâu nằm trong trung tâm Phật giáo Luy Lâu xưa.
Các nguồn thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam cho biết, Luy Lâu (hay Liên Lâu) là trị sở của Thái thú Sỹ Nhiếp ở Giao Châu, đóng tại làng Lũng Khê, Phủ Thuận Thành, nay thuộc các xã Thanh Khương, Trí Quả, Gia Đông thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ở đấy vẫn còn di tích thành, đền thờ và Lăng mộ Sỹ Nhiếp.
Theo sự chỉ dẫn trên, từ nhiều thập kỷ nay, nhiều nhà khoa học đã để tâm tìm hiểu Luy Lâu. Đặc biệt từ đầu những năm 1970 trở lại đây, giới sử học và khảo cổ học Việt Nam đã tiến hành nhiều đợt nghiên cứu, khảo sát, khai quật khảo cổ học tại Luy Lâu. Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, Luy Lâu là khu di tích khảo cổ học thời Bắc thuộc có quy mô rộng lớn nhất (hàng mấy chục vạn mét vuông) với số lượng di tích phong phú nhất ở nước ta hiện nay.
Tổng thể các nguồn tài liệu và di tích ở Luy Lâu đã cho phép tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của đô thị Luy Lâu - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa cổ xưa có quy mô lớn nhất của nước ta thời Bắc thuộc.
Trước hết, Luy Lâu có nhiều lợi thế về vị trí cảnh quan. Đây là vùng đất cao, thoáng, bao quát được cả khu vực rộng lớn của đồng bằng châu thổ, đồng thời nằm ở vị trí chiến lược về nhiều mặt.
Cảnh quan Luy Lâu xưa gắn liền với sông nước, thông thương với Biển Đông nhưng vẫn cao thoáng, phong quang hơn các vùng xung quanh, nhất là so với miền Hà Nội ở những thế kỷ Tr-S.C.N. Đặc biệt, từ rất sớm, Luy Lâu là nơi gặp gỡ, giao hội của các luồng giao thông thủy, bộ quan trọng.
Với lợi thế địa - cảnh quan đó, Luy Lâu đã sớm trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của người Việt ở những thế kỷ Tr.C.N. Các di tích khảo cổ học ở Luy Lâu và các vùng xung quanh là những chứng tích vật chất khẳng định điều đó.
Đặc biệt mới đây đã tìm thấy di tích khuôn đúc trống đồng bằng đất ở trong Thành Luy Lâu. Đây là di tích khuôn đúc trống đồng Đông Sơn lần đầu tiên tìm thấy ở nước ta, khẳng định Luy Lâu không chỉ là địa bàn cư trú mà còn là trung tâm kinh tế, văn hóa của người Việt ở đồng bằng châu thổ từ những thế kỷ Tr.C.N. Trong khu vực Luy Lâu, cùng các chứng tích khảo cổ học là hàng loạt các di tích như lăng mộ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân và Âu Cơ, đền thờ các tướng thời Hùng Vương, Hai Bà Trưng. Rồi các tài liệu, địa danh, truyền thuyết, tín ngưỡng thờ các tướng thờ “Thạch Quang”, “Tứ Pháp”, lễ hội Dâu với các trò diễn tắm Phật, cướp nước… đã thể hiện cuộc sống và sinh hoạt văn hóa tâm linh rất điển hình của cư dân nông nghiệp vùng Dâu ở những thế kỷ Tr.C.N.
Với các nguồn tài liệu phong phú kể trên, đã cho phép các nhà nghiên cứu xác định: “Luy Lâu là tên phiên âm cổ của Dâu, một trong những bộ lạc lớn và quan trọng, hợp thành nước Văn Lang - Âu Lạc. Bộ lạc Dâu với trung tâm là Đền Bà Dâu, sau là trị sở Quận Giao Chỉ, là bộ lạc vùng đất bãi sông Dâu, sông Đuống, vốn làm nông nghiệp, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải. Và Dâu trước thời Hán xâm lược có thể đã là trung tâm kinh tế, trung tâm buôn bán như một thị trấn”. Luy Lâu được coi là “Cái ổ từ đó người Việt tràn ra chiếm lĩnh miền trung châu”…
Trung tâm kinh tế - văn hóa Luy Lâu những thế kỷ Tr.C.N phản ánh xu thế tiến xuống đồng bằng châu thổ và chiếm lĩnh vùng ven biển phía Đông của người Việt cổ. Trong xu thế đó, phong kiến Trung Quốc đã nhận thấy Luy Lâu giữ vị trí ưu thế và thuận lợi về nhiều mặt để đặt trị sở thống trị, đồng thời chiếm giữ, khống chế con đường hàng hải quốc tế để tiến xuống chinh phục các nước phương Nam. Từ một trung tâm kinh tế - văn hóa của người Việt, Dâu (tức Luy Lâu) đã nhanh chóng trở thành trị sở thống trị của phong kiến nhà Hán ở Giao Chỉ.
Năm 149 Tr.C.N, Triệu Đà xâm chiếm Âu Lạc và sáp nhập vào Nam Việt. Năm 111 Tr.C.N, nhà Hán chinh phục Nam Việt, thiết lập chế độ quận, huyện. Đất nước ta thời Hán thuộc Quận Giao Chỉ, sau đó là Giao Châu.
Trong các công trình về lịch sử và văn hóa Việt Nam, hầu hết các nhà nghiên cứu đều xác định Luy Lâu (hay Liên Lâu) và Long Biên là hai huyện lớn thuộc Quận Giao Chỉ (sau đổi là Giao Châu) và trị sở của quận đã thay nhau đóng ở hai huyện này, mãi tới nửa đầu Thế kỷ IX, mới chuyển về Tống Bình, Đại La (tức Thăng Long - Hà Nội sau này).
Trị sở Long Biên ở đâu? Nhiều dự đoán, giả thuyết của không ít các nhà khoa học đưa ra ở các vị trí khác nhau thuộc các huyện Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Từ Sơn, Thị xã Bắc Ninh thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Các dự đoán giả thuyết đều chưa đủ sức thuyết phục vì thiếu hẳn chứng tích vật chất để khẳng định. Đó là nguồn tài liệu khảo cổ học.
Trong khi đó, trị sở Luy Lâu thì không những được các nguồn thư tịch cổ ghi chép, chỉ dẫn mà còn được khẳng định bằng khu di tích khảo cổ học Luy Lâu với trung tâm là tòa thành cổ ở làng Lũng Khê, xã Thạch Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.
Phác họa thành Luy Lâu xưa
Luy Lâu là ngôi thành đất, cấu trúc dạng chữ nhật, nằm gọn trong làng Lũng Khê, nay còn dấu tích với quy mô khá lớn, kích thước của các lũy thành đo được như sau: lũy thành phía Tây: 328m; lũy thành phía Đông: 320m; lũy thành phía Bắc: 680m; lũy thành phía Nam: 520m.
Các lũy thành bị san bạt đi nhiều, nhưng những chỗ còn lại vẫn cao khoảng 4 - 5m so với mặt ruộng hiện tại, mặt lũy rộng từ 5 đến 10m, chân rộng từ 25 đến 40m. Thành mở cửa chính ở giữa lũy phía Tây, nhìn ra sông Dâu, hai bên cửa có dựng lầu gác gọi là “Vọng giang lâu”. Cửa sau mở ra phía Đông, nay còn địa danh xóm Cổng hậu. Trên mặt bốn góc thành là đồn canh, nay còn di tích “đồn quan trấn” (hay còn gọi là “tứ trấn thành quan”. Bao ngoài các thành lũy là hệ thống hào. Con sông Dâu trở thành hào thiên nhiên ở mặt Tây, còn ba mặt Bắc - Đông - Nam là hào được tạo bởi đào đất đắp lũy thành mà nay còn lại dấu tích là những dãy ao rộng tới 40-50m chạy thành dải. Phía ngoài thành hào là những lũy tre dày đặc; các hào thông với nhau và nhận nước từ sông Dâu, vừa là chướng ngại hiểm trở, vừa là hệ thống giao thông thuận tiện giữa trong và ngoài thành.
Trải trên diện rộng, trong và ngoài thành là dấu tích cư trú kiến trúc với vô vàn các di vật gạch ngói các loại, các đồ sinh hoạt, công cụ sản xuất… cho thấy trong và ngoài thành có những công trình kiến trúc quy mô to lớn. Giữa thành là Đền thờ Sỹ Nhiếp với tên gọi “Đền Nam Giao” cùng nhiều đồ vật, văn tự. Rồi hệ thống chùa tháp, đình, đền thờ các tướng của Hai Bà Trưng, khu mộ địa và Lăng Sỹ Nhiếp ở phía Đông thành (nay thuộc Làng Tam Á)…
Cho đến nay, ngoài Luy Lâu không có nơi nào trên đất nước ta còn lại một khu di tích phản ánh tập trung thế kỷ lịch sử Bắc thuộc, đặc biệt là về Sỹ Nhiếp trong thời gian làm Thái thú ở Giao Châu và đóng trị sở tại Luy Lâu.
Các nguồn thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam (Hậu Hán thư, Giao Châu ngoại vực ký, An Nam chí lược, Đại Thanh thống nhất chí…) đã ghi Thành Luy Lâu có từ thời Tây Hán và là trị sở của Quận Giao Chỉ thời thuộc Hán - Ngô. Đặc biệt, sách Đại Việt sử ký toàn thư còn cho biết Luy Lâu (hay Liên Lâu) - Long Uyên - Long Biên chỉ là một.
Sỹ Nhiếp làm Thái thú Giao Châu dưới hai triều Đông Hán và Ngô trong thời gian 40 năm và hai lần được phong tước: Long Bộ Đình Hầu (triều Đông Hán) và Long Biên Hầu (triều Ngô). Suốt thời kỳ làm Thái thú Giao Châu, Sỹ Nhiếp chỉ đóng trị sở tại Luy Lâu mà không có sự chuyển dời nào. Di tích Thành Luy Lâu (còn có tên là Thành Sỹ Vương, Thành Nam Giao), rồi đền thờ ông ở trong thành, lăng mộ ở Tam Á, cùng các nguồn tài liệu bia ký, truyền thuyết, địa danh… ở Luy Lâu đều thống nhất chỉ định trị sở của Sỹ Nhiếp tại Luy Lâu.
Việc Sỹ Nhiếp được phong tước Long Biên hầu thời thuộc Ngô cho thấy, vào thời điểm này (nửa đầu thế kỷ III trở đi), Luy Lâu (hay Liên Lâu) đã mang tên Long Biên. Lý do việc chuyển đổi này có nhiều cách giải thích khác nhau. Theo Thủy kinh chú: “Năm Kiến An thứ 23 đời Hán, lúc bắt đầu lập thành (Long Biên), có giao long lượn đi, lượn lại ở hai bến Nam - Bắc, nhân đó đổi Long Uyên ra Long Biên”. Năm Kiến An thứ 23 đời Hán, tức năm 218 là thời điểm Giao Châu dưới quyền cai quản của Thái thú Sỹ Nhiếp.
Sỹ Nhiếp đã cho xây dựng Luy Lâu thành trị sở cai trị và trung tâm kinh tế, văn hóa ở Giao Châu. Thành Luy Lâu được tu bổ mở rộng với quy mô to lớn, trở thành công trình phòng vệ kiên cố và căn cứ quân sự lợi hại. Chính văn bia ở đền thờ Sỹ Nhiếp trong Thành Luy Lâu đã xác nhận: “Sỹ Nhiếp người nước Lỗ (Trung Quốc), là vị chân Nho, làm Thứ sử Giao Châu, hành đức giữ gìn Phật tượng ở ấp Lũng Chiền, Siêu Loại, Thành Luy Lâu. Lấy Thành Luy Lâu làm nơi ở, phụng sự đền thờ và bốn bên Thành Luy Lâu. Đó chính là nơi trị sở…”.
Tóm lại, các nguồn tài liệu, đặc biệt là tài liệu ở khu di tích Luy Lâu đã thống nhất và bổ sung cho nhau, xác định Luy Lâu chính là Long Biên thủ phủ Giao Chỉ - Giao Châu thời Bắc thuộc. Trị sở này được xây dựng, mở rộng với quy mô lớn, bề thế như kinh đô của một nước dưới thời cai quản của Thái thú Sỹ Nhiếp. Mãi tới nửa đầu thế kỷ IX, trung tâm chính trị Giao Châu mới chuyển dời từ Luy Lâu về Tống Bình (Đại La), chấm dứt vai trò của Luy Lâu gần suốt thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ lịch sử bi hùng của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược và đồng hóa để cuối cùng giành lại quyền độc lập dân tộc, xây dựng quốc gia tự chủ vào đầu Thế kỷ X.
 Theo Chinhphu.vn

Khai mạc trọng thể Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội

Sáng 1/10, tại Vườn hoa Lý Thái Tổ, khu vực hồ Hoàn Kiếm,  Ban Chỉ đạo Quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Thành phố Hà Nội tổ chức trọng thể Lễ khai mạc Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và đón nhận bằng di sản văn hóa thế giới cho khu Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long.
Bí thư thành ủy Phạm Quang Nghị tuyên bố khai mạc Đại lễ. Ảnh: Trương Huyền
Bí thư thành ủy Phạm Quang Nghị tuyên bố khai mạc Đại lễ. Ảnh: Trương Huyền
Tới dự lễ khai mạc có các đồng chí: Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam; Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư  Đảng CSVN  Việt Nam; Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Đảng CSVN; Trần Đức Lương nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam; Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam; Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ nước CHXHCN - Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội; Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội, cùng lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương và Thành phố Hà Nội; lãnh đạo các tỉnh, thành phố, đại diện sứ quán các nước tại Hà Nội.
Đúng 8h Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã thắp ngọn lửa thiêng lên đài lửa khai mạc Đại lễ. Sau đó, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thành phố Hà Nội đã làm lễ dâng hương lên Đức vua Lý Thái Tổ. 
Bí Thư Thành ủy Phạm Quang Nghị đọc diễn văn khai mạc Đại lễ kỷ niệm, ôn lại lịch sử hào hùng của Thăng Long – Hà Nội: Từ năm 1010, đức vua Lý Thái Tổ đã khẳng định, Thăng Long là nơi hội tụ của linh khí đất nước, là nơi địa linh nhân kiệt. Đức vua Lý Thái Tổ đã ban Chiếu dời đô, dời kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Từ đấy Thăng Long trở thành Kinh đô, Trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của cả nước. Mảnh đất này là nơi sinh ra những anh hùng, những bậc hiền tài có công trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, là nơi chứng kiến những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc.
Hà Nội, kỷ niệm 1000 năm lịch sử, luôn ghi nhớ công lao những người con của mọi miền đất nước, đã chiến đấu quả cảm và hy sinh oanh liệt trên mảnh đất thiêng này. Tiêu biểu là tấm gương kiên trung, bất khuất của Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương, Tổng đốc Hoàng Diệu, những chiến sỹ cảm tử ôm bom ba càng lao vào phá xe tăng địch với tinh thần "quyết tử để tổ quốc quyết sinh".  Dân tộc ta, non sông đất nước ta tự hào và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – Người được toàn thể nhân dân tôn kính gọi là Bác Hồ; được nhân loại tôn vinh Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Và đến hôm nay, Hà Nội đã tiếp tục xây dựng, hoàn thiện mọi mặt để xứng đáng là Thủ đô của đất nước. 
Thay mặt UNESCO Bà Irina Pokova, Tổng giám đốc UNESCO đã trao bằng Di sản văn hoá thế giới khu Trung tâm hoàng thành Thăng Long cho lãnh đạo Thành phố Hà Nội.
Tổng Giám đốc UNESCO trao bằng Di sản văn hóa thế giới Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long cho Thành phố Hà Nội. Ảnh: hanoi.gov.vn
Tổng Giám đốc UNESCO trao bằng Di sản văn hóa thế giới Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long cho Thành phố Hà Nội. Ảnh: hanoi.gov.vn
Phát biểu tại buổi lễ bà Bà Irina Pokova nhấn mạnh: “Rất ít nước trên thế giới có thể gìn giữ được những ký ức sống động về việc lập đô từ 1.000 năm trước mà không bị mai một theo thời gian. Việc Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long được công nhận là Di sản thế giới là một vinh dự, đồng thời cũng mang đến những cam kết và trách nhiệm mới đối với tất cả các bạn”. Bà hy vọng, Hà Nội sẽ làm hết sức mình để giữ được những giá trị văn hóa, lịch sử mà cha ông để lại.
Ngay sau phần nghi lễ, là chương trình nghệ thuật đặc sắc đã tái hiện những mốc son trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Từ hình ảnh dời đô, đến các chiến sỹ cảm tử quân chiến đấu bảo vệ từng góc phố Hà Nội. Phần hội diễn ra tại 5 sân khấu khu vực xung quanh hồ Gươm và Quảng trường Cách mạng tháng Tám. Sân khấu 1 (tại vườn hoa Lý Thái Tổ) với chủ đề “Thăng Long - Hà Nội, thành phố lịch sử truyền thống anh hùng”. Sân khấu 2 (cạnh Đền Bà Kiệu) với chủ đề “Thăng Long - Hà Nội, Thủ đô văn hiến”. Sân khấu 3 (tại Quảng trường Đông Kinh nghĩa thục) với chủ đề “Thăng Long - Hà Nội, thành phố vì hòa bình”. Sân khấu 4 (tại ngã 3 phố Lê Thái Tổ - Hàng Trống) với chủ đề “Hà Nội, thành phố của hội nhập và phát triển”. Sân khấu 5 (ngã 4 Hàng Khay - Tràng Tiền - Đinh Tiên Hoàng - Hàng Bài) với chủ đề “Hà Nội, trái tim của cả nước".
Tống Liên - Trương Huyền