Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2016

Phan Văn Thúy

Ông là người huyện Đăng Xương (1884, đổi là Thuận Xương)[1], thuộc phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị [2]. Lớn lên, không rõ năm nào, ông theo chúa Nguyễn vào Gia Định, rồi từng được bổ làm Khâm sai thuộc nội Cai đội quân Thần Sách [3], Vệ úy vệ Hổ uy[4].

Sau khi nhà Tây Sơn bị đánh đổ, năm Gia Long thứ 2 (Quý Hợi, 1803), thăng ông làm Hữu doanh Vệ úy, Khâm sai Chưởng cơ, coi quân bản doanh. Chẳng lâu sau, ông nhận mệnh "theo thủy quân của Đô thống chế Thái hòa hầu, ngồi thuyền Hải Đạo, đến địa phương Bắc Thành tiểu trừ giặc biển"[5].

Năm Gia Long thứ 14 (Ất Hợi, 1815), cử ông làm Lưu thủ [6] doanh Quảng Bình. Sau, có tội, ông bị biếm xuống Cai cơ[7].

Năm Minh Mạng thứ nhất (Canh Thìn, 1820), thăng ông làm Chưởng cơ[8], rồi lại thăng làm Phó Đô thống chế doanh hậu quân Thần Sách, lãnh nhiệm vụ Phó Đốc trấn Thanh Hóa[9].

Năm Minh Mạng thứ 6 (Ất Dậu, 1825), cử ông coi việc đào sông (kênh) Vĩnh Định ở Quảng Trị. Theo Quốc triều sử toát yếu, thì công việc khởi sự vào tháng 3 (âm lịch) năm ấy. Sử thần chép: "Vì lúc bấy giờ các trấn lâu không mưa, giá gạo hơi cao, triều đình bàn khởi việc công dịch để lấy tiền nuôi dân. Sông đào xong, tùy bậc thưởng cấp" [10]. Xong việc, cất ông làm Phó Đô thống chế thị nội doanh Long Vũ.

Năm Minh Mạng thứ 8 (Đinh Hợi, 1827), lại cho ông kiêm quản Tòa Thương Bạc. Tháng 5 (âm lịch) năm đó, quân Xiêm La (Thái Lan ngày nay) đánh lấy nước Vạn Tượng (Lào ngày nay), khiến vua nước ấy là A Nỗ phải chạy sang Việt Nam cầu cứu. Vua Minh Mạng liền cho Phan Văn Thúy sung chức Kinh lược biên vụ đại thần kiêm lĩnh Trấn thủ Nghệ An để lo việc.

Năm Mậu Tý (1828), ông cùng Phó tướng Nguyễn Văn Xuân, Tham tán Nguyễn Khoa Hào...đem 2.000 lính Kinh, 30 con voi, tiến đến đóng đồn ở phủ Trấn Ninh (Nghệ An)[11] rồi tìm cách đưa vua A Nô về nước [12].

Ít lâu sau, nhà vua ban chỉ triệu ông về, thăng làm Đô thống, cho lĩnh chức Phó Tổng trấn Bắc Thành. Thấy mình đến tuổi 70, nhiều lần ông dâng sớ xin về hưu, nhưng nhà vua cứ ủy lạo lưu lại[13].

Theo sách Quốc sử di biên của danh thần Phan Thúc Trực, thì lúc làm Phó Tổng trấn, Phan Văn Thúy đã dâng sớ xin đổi cách mặc quần áo ở Bắc Thành, và được vua nghe theo. Sách Quốc triều sử toát yếu chép: "Tháng 10 (âm lịch) năm Mậu Tý (1828), truyền đổi cách ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc" [14].

Năm Minh Mạng thứ 14 (Quý Tỵ, 1833), cho ông làm Thự Hậu quân Đô thống Chưởng phủ sự, tước Chương Nghĩa hầu. Gặp lúc Lê Văn Khôi khởi binh chống Nguyễn ở thành Phiên An, nhà vua cho ông làm Thảo nghịch Hữu tướng quân. Đến nơi, ông và Tham tán Trương Minh Giảng tiến quân phá tan một đội quân nổi dậy ở trạm Biên Long. Tháng 8 (âm lịch) năm đó, ông bị bệnh tại quân thứ Biên Hòa[15], chuyển về đến Khánh Hòa thì mất.

Thương tiếc, vua Minh Mạng cho truy tặng ông là Đặc tiến Tráng Vũ tướng quân Thiếu bảo, ban tên thụy là Trung Tráng. Sau đó, nhà vua còn cho thiết đàn tế ở bên sông Hương, đồng thời sai Hoàng tử Vĩnh Tường công Miên Hoành làm lễ tứ tửu (tức lễ dâng rượu vua ban) [16].

Năm Bính Thân (1836), tên ông được khắc trên bia Võ công dựng tại Võ miếu (lập năm 1835), và đứng hàng thứ ba trong số 20 danh tướng của triều Nguyễn [17].

Thông tin liên quan[sửa 
Danh tướng Phan Văn Thúy là người có công lớn trong việc đào sông (kênh) Vĩnh Định ở Quảng Trị. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, thì:
Sông đào Vĩnh Định (Vĩnh Định Hà) ở phía đông lỵ sở cũ của huyện Hải Lăng, chia nước từ ngã ba làng Cổ Thành của sông cái Thạch Hãn, chảy qua thôn La Duy, lại chảy qua làng Trung Đan (hay Đơn) rồi vào làng Lương Điền. Thời trước, làng Trung Đan có một đường kênh, sau bị phù sa, cát bồi lấp thành cạn, thuyền bè khó đi.
Năm thứ 33 (Tân Dậu, 1681) đời Thái Tông (chúa Nguyễn Phúc Tần), đã cho vét đào, lâu ngày lại tắc. Đến năm thứ 2 (Quý Dậu, 1693) đời Hiển Tông (chúa Nguyễn Phúc Chu) lại đào, sau lại bị cát bồi hầu thành đất bằng. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), vua sai Thống chế Phan Văn Thúy đốc binh dân khai đào từ xã Câu Kênh đến xã Trung Đan gồm 1.720 trượng, ba tháng thì xong, bèn cho tên là Vĩnh Định.
Năm Minh Mạng thứ 17 (Bính Thân, 1836), xa giá nhà vua tuần du ra Quảng Trị, thuyền ngự đi qua sông này, có thơ ngự chế khắc vào đá và dựng nhà bia ở bờ nam sông. Cũng vào năm ấy đúc Cửu Đỉnh, khắc hình sông vào Thuần Đỉnh.
Năm Thiệu Trị thứ 2 (Nhâm Dần, 1842), xa giá Bắc tuần, nhà vua có thơ ngự chế khắc vào bia đá dựng ở bờ sông[18].
Theo Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực, vào năm 1828 (Minh Mạng thứ 9), vấn đề đổi trang phục của miền Bắc được đặt ra, lần này không phải từ phía chính quyền trung ương mà là từ chính quyền địa phương. Sách này chép: "Tháng 9, Phó Tổng trấn Bắc Thành là Phan Văn Thúy xin đổi cách mặc quần áo ở Bắc Thành, vua nghe theo. Vua dụ rằng: "Đất nước ta cùng chung bốn biển, phong tục hay, lẽ nào lại để cho có những chỗ sai khác. Tháng trước, các trấn thần ở Thanh Hóa, Nghệ An lần lượt xin đổi quần áo của sĩ dân, nay thể theo khẩn cầu, toàn hạt Bắc Thành cũng được sửa đổi kịp thời, để thống nhất chế độ"...

Căn cứ vào điều lệnh do Tổng trấn Bắc Thành Phan Văn Thúy công bố vào tháng 5 năm 1830 (năm Minh Mạng thứ 11), thì kể từ đó "Đàn ông không được đội mũ dài, mũ Thiên bình, mũ Yến vĩ, áo có ống tay rộng, cổ cao, đai lưng, đi tất chân. Phụ nữ không được dùng vải lụa ngắn quấn trên đầu, các dây đai eo lớn nhỏ và quần không đáy"[19].

Sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Định trên Cửu Đỉnh của Triều Nguyễn

Cửu Đỉnh ở Đại Nội Huế là báu vật bằng đồng vô giá của nước ta, một bộ “Đại Nam nhất thống chí” bằng hình ảnh vô cùng độc đáo và hoành tráng, được đúc khắc trên chín đỉnh đồng đồ sộ đầu tiên của Việt Nam. Đây là một tượng đài văn hóa Việt trường tồn vĩnh viễn. Nghiên cứu các cảnh được chọn, ta thấy vua Minh Mạng hiểu giang sơn gấm vóc Việt Nam vô cùng thâm hậu. 9 đỉnh là : Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, Huyền Đỉnh. Mỗi đỉnh có khắc 17 cảnh sông, núi, mây, gió, hoa cỏ, cây trái đặc trưng từng tỉnh ở 3 miền Việt Nam, tổng cộng có 153 hình ảnh.
rong sách “Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” (NXB Thi Thức,1/2011), nhà văn Dương Phước Thu đã mô tả từng hình ảnh một rất tỉ mỉ. Nhà văn có một phát hiện thú vị, tất cả các loại cảnh vật khắc trên đỉnh đều được chọn lọc và sắp xếp theo con số 9: 9 ngọn núi lớn, 9 con sông lớn; 9 loài chim; 9 con sông đào... Đất nước Việt Nam ta núi thì nhiều, sông cũng lắm, chọn 9 ngọn núi, 9 con sông thôi là sự lựa chọn rất khó khăn. Và Minh Mạng, vị vua anh minh nhất triều Nguyễn đã chọn khắc những ngọn núi, con sông, những sản vật có vị trí rất đích đáng trong lịch sử hình thành đất nước.
Trong 153 hình ảnh được chọn khắc, ngoài các sản vật nông nghiệp như cây lúa tẻ, lúa nếp, cây hành, đậu ván, cây tỏi, hoa ngọc lan, hoa hồng, hoa sen... ở tỉnh nào cũng có, thì hình ảnh ấn tượng nhất, là biểu trưng của đất Quảng Trị được chọn khắc là sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Định. Thạch Hãn là con sông tự nhiên, Vĩnh Định là con sông đào.
Sông Thạch Hãn (Thạch Hãn Giang), theo nhà văn Dương Phước Thu trong sách đã dẫn trên thì thời Trần, sông có tên là Thái Già, chảy qua hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Sông bắt nguồn từ vùng núi cao huyện Hướng Hóa, giáp giới Lào. Sông chảy theo hướng tây bắc, đến bãi Ái Tử, chảy chừng 33 dặm thì có thêm nguồn nước Viên Kiệu chảy vào, rồi chuyển sang hướng đông nam.
Hành trình của sông Thạch Hãn qua nhiều khúc đoạn. Từ Ái Tử qua Ngưu Cước, tục gọi là nguồn Trang, qua bến Lương Mai, qua bến Trinh Thạch. Ở đây có hai dòng khe từ phía nam qua phường Trà Trì chảy vào, rồi qua Khe Trái, qua chợ Như Lệ, qua xã Thạch Hãn. Ở đây có một thân đá nhô lên trên mặt nước, nằm ngang từ trái sang phải, cốt đá trập trùng, nên có tên là Thạch Hãn (?). Sông lại chảy qua phía tây Thành Cổ Quảng Trị, qua ngã ba làng Cổ Thành. Đến địa phận hai làng An Tiêm và Xuân Yên thì chia làm hai nhánh. Một nhánh chảy về phía đông nam đổ vào sông đào Vĩnh Định. Một nhánh chảy về phía đông bắc, qua ngã ba Vĩnh Phước, rồi qua ngã ba Gia Độ, qua ngã ba Giáo Liêm, chảy thêm 10 dặm nữa là đổ ra Cửa Việt.
Tổng cộng, sông Thạch Hãn dài 155 cây số. Sông bắt nguồn rất xa, chảy qua nhiều địa hình nên nước trong và ngọt. Ngạn ngữ có câu “Bất vi xạ nào, diệc thị trầm đàn; bất vi quỳnh tương diệc thị cam lễ” (Chẳng phải xạ hương long não, thì cũng trầm hương đàn hương; chẳng phải quỳnh tương thì cũng cam lễ). Câu này là sự xưng tụng rất chính xác phẩm chất của nước sông Thạch Hãn. Ở Quảng Trị, người ta tóm lược thành “Chẳng thơm cũng thể hương đàn. Chẳng trong cũng nước nguồn Hàn chảy ra” để chỉ phẩm chất của con người Quảng Trị.
Năm Minh Mạng thứ 17, hình ảnh sông Thạch Hãn được khắc vào Thuần Đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2, xa giá Bắc tuần, khi qua sông này, nhà vua có thơ đề vịnh. Năm Tự Đức thứ 3, 1850, vua liệt Thạch Hãn vào hàng các sông lớn, ghi vào điển thờ.
.........................................
Sông Thạch Hãn nổi tiếng với các thứ cá, tôm, cua, ốc... Đầu nguồn sông, nơi ghềnh đá có giống cá chạch chấu (cá chình), mình dài, thịt rất ngon. Cùng với non Mai, sông Hãn chính là thủy mạch linh diệu của miền Châu Ô.
Sông đào Vĩnh Định (Vĩnh Định Hà) chảy về phía đông của huyện Hải Lăng, chia nước từ ngã ba làng Cổ Thành của sông cái Thạch Hãn, chảy qua thôn La Duy, lại chảy qua làng Trung Đơn rồi vào làng Lương Điền. Thời trước, làng Trung Đơn có một đường kênh, sau bị phù sa, cát bồi lấp thành cạn, thuyền bè khó đi. Thời chúa Nguyễn, năm Tân Dậu thứ 33, đã cho vét đào, lâu ngày lại tắc. Đến năm Quý Dậu, Minh Mạng thứ 6 (1825), vua sai thống chế Phan Văn Thúy, người làng Đạo Đầu, huyện Triệu Phong đốc thúc 3.700 dân phu Thừa Thiên và Quảng Trị đến đào lại kênh, từ làng Diên Kinh đến làng Trung Đơn, dài 1.720 trượng.
Vật liệu cần dùng thì quan phải mua, không được lấy của dân. Đào 3 tháng thì xong, nhà vua thân ban cho tên gọi của sông đào là Vĩnh Định. Lại sai dinh thần đem trâu rượu đến khoản đãi dân phu. Đến năm Minh Mạng thứ 17, xa giá nhà vua tuần du ra Quảng Trị, khi thuyền ngự đi qua sông này, thấy cảnh làng mạc bình yên, mùa màng tươi tốt, dân thu được nhiều mối lợi từ việc đào sông dẫn thủy, vua Minh Mạng cảm xúc đã có thơ ngự chế khắc vào đá Thanh và dựng nhà bia ở bờ nam sông. Cũng vào năm ấy, vua quyết định chọn sông đào Vĩnh Định khắc vào Cửu Đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2, xa giá bắc tuần, nhà vua có thơ ngự chế khắc vào bia đá dựng ở bờ sông.
Thời trước, sông Vĩnh Định bồi đắp phù sa cho đồng ruộng cả vùng. Hàng năm vẫn thường được triều đình cho nạo vét để giữ dòng chảy. Có những năm hạn hán, Quảng Trị mất mùa, bão lũ liên miên, triều đình dưới thời vua Tự Đức sai quan quân tổ chức phát chẩn, cứu đói cho dân, nhân đấy quan chức địa phương sức dân đi nạo vét sông Vĩnh Định, chiếu ngày công mà cấp lương thực, để mau có nước tưới cho ruộng đồng hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng.
Ngày trước, thương khách buôn đò dọc từ Quảng Bình đến Quảng Trị rồi vào Huế hoặc ngược lại thường theo dòng sông này mà đi, đường gần hơn đường biển vài chục dặm. Tiếc rằng, sông đào Vĩnh Định hiện nay không còn được phát huy chức năng như xưa, nhiều đoạn bị lấp cạn, tắc dòng, nước tụ, thuyền bè khó đi, không như hình ảnh sang trọng của sông được khắc trên Cửu Đỉnh.

Ngoài hai hình ảnh đặc trưng nói trên, quê hương Quảng Trị còn có nhiều sản vật quý vua chọn khắc như chim yến (Yến Oa ) trên Tuyên Đỉnh, Cá sấu ( Ngọc Ngư) trên Chương Đỉnh, rùa biển trên Nghị Đỉnh, hoa ngọc lan trên Huyền Đỉnh...Không biết đến nay các sản vật trên có còn không? 
(QT-Xuân 2012)