Bơi qua sông Bến Hải
Sau 1 năm chuẩn bị bao gồm cả
việc tuyển mộ, đào tạo điệp viên với sự hợp tác được cho là toàn diện
nhất với cơ quan an ninh của chính quyền Ngô Đình Diệm, CIA mới thực
hiện được điệp vụ đầu tiên xâm nhập miền Bắc VN qua khu phi quân sự
(DMZ) ở hai bên bờ sông Bến Hải. Một nam điệp viên đã bơi qua sông Bến
Hải bằng săm ôtô trước nửa đêm 5/12/1960. (Trong tài liệu vừa được giải
mật, mật danh của điệp viên này vẫn bị bôi đen - PV). Sĩ quan người Việt
khác chờ sẵn ở bờ bên kia để xì hơi, cắt săm và chôn xuống đất trước
khi điệp viên đi bộ về hướng Bắc.
Với các giấy tờ do CIA cung
cấp, điệp viên này vượt qua hai chốt kiểm tra của cảnh sát để đến gần
thị trấn Hồ Xá trước khi trở về phía Nam bằng đường cũ. Tài liệu vừa
giải mật không cho biết điệp viên này đã thực hiện được nhiệm vụ gì phía
bên kia sông.
Vào thời điểm thực hiện điệp vụ
đầu tiên xâm nhập miền Bắc VN, quan chức cấp cao CIA Robert Myers thăm
Sài Gòn và được William Colby, Trưởng Văn phòng CIA tại Sài Gòn, mô tả
chi tiết về chương trình mới cho người Việt Nam nhảy dù xuống miền Bắc.
Myers, người đã chứng kiến thất
bại trong các điệp vụ tương tự của CIA tại Trung Quốc giữa những năm
50, nói với Colby rằng chương trình sẽ khó triển khai. Tuy nhiên, Colby
không đồng ý với quan điểm trên và khẳng định rằng có thể phát hiện được
những khu vực an toàn ở miền Bắc, ít nhất là ở những nơi vắng dân cư.
Trong báo cáo gửi về Tổng hành
dinh CIA tại Mỹ, Văn phòng CIA tại Sài Gòn mô tả chi tiết quá trình
chuẩn bị hoàn hảo như thế nào cho điệp viên để có thể thành công khi xâm
nhập miền Bắc VN. Cuối cùng, Văn phòng CIA khẳng định phải mất 1 năm
chuẩn bị trước khi có nhóm điệp viên đầu tiên đổ bộ vào miền Bắc.
Hơn một năm sau vào đêm
26/3/1961, hình thức xâm nhập đơn độc kiểu này mới được CIA thực hiện
tiếp. Văn phòng CIA tại Sài Gòn bố trí thuyền đưa điệp viên này tới một
nơi gần Đồng Hới, cách không xa DMZ. Trong 5 ngày nằm vùng, điệp viên
quan sát công việc của cảnh sát miền Bắc và các kho quân sự nhỏ. Vẫn sử
dụng giấy tờ giả, nam điệp viên này bắt xe ôtô tới Vĩnh Linh và sau đó
đi bộ tới sông Bến Hải để trở về miền Nam vào ban đêm.
Gần đây, Colby hồi tưởng trong
các tài liệu được các sử gia CIA ghi lại rằng: "Một trong những dấu hỏi
lớn hồi đó là tại sao chúng ta không ăn miếng trả miếng: Lực lượng Bắc
VN Nam tiến thì vì sao chúng ta không tiến ra Bắc.
Từ ý tưởng có từ thời Thế chiến
II, chúng tôi quyết định thực hiện chương trình do thám bằng đường biển
và đường không". Trước khi đưa ra quyết định trên, CIA cùng chính quyền
Ngô Đình Diệm chỉ chú trọng vào việc chống lại lực lượng nổi dậy ở miền
Nam và các nhóm từ miền Bắc.
Lộ tẩy vì bút bi
Tới mùa xuân 1961, Văn phòng
CIA tại Sài Gòn và Văn phòng Liên lạc Tổng thống đã sẵn sàng cho các vụ
xâm nhập bằng cách nhảy dù từ máy bay và bằng đường biển. Trong khi đội
biệt kích nhảy dù vẫn phải chờ tới lúc thời tiết thuận lợi và tuần trăng
lên, một điệp viên được thuyền máy đánh cá, loại quen thuộc trong khu
vực, đưa tới miền Bắc vào đầu tháng 4/1961.
Nam điệp viên cặp bờ tại vùng
núi đá vôi nhấp nhô ở Vịnh Hạ Long, phía đông cảng Hải Phòng và kế hoạch
vạch sẵn bắt đầu với việc tìm kiếm nơi người thân trong gia đình đang
sinh sống trong vùng. Cũng theo kế hoạch, điệp viên này tuyển mộ vài
người địa phương nhằm giúp vận hành máy phát tín hiệu vô tuyến RS-1 thời
Thế chiến II.
Văn phòng CIA tại Sài Gòn xác
định phải mất nhiều tuần mới có thể nhận được tín hiệu nếu điệp viên
không tìm được cộng sự ở địa phương, nhưng trên thực tế họ không phải
chờ lâu. Với sự giúp đỡ của anh trai, điệp viên nhanh chóng tìm được chỗ
giấu máy phát tín hiệu radio trong rừng. Sau đó, họ phát đi thông điệp
đầu tiên trong tổng cộng 23 tin sau này. Đây được xem là thông điệp dài
nhất từ các điệp vụ xâm nhập vào miền Bắc VN do CIA thực hiện trong suốt
5 năm.
Đến giữa tháng 6, Văn phòng CIA
tại Sài Gòn đột nhiên không còn nhận được tín hiệu từ Vịnh Hạ Long.
Ngày 17/6/1961, Lực lượng An ninh nhân dân miền Bắc (PASF) bắt giữ điệp
viên này cùng anh trai vì tội làm gián điệp. Lỗ hổng bắt đầu từ việc một
dân chài phát hiện ra chiếc xuồng nhỏ giấu ở bờ biển được điệp viên sử
dụng để di chuyển từ thuyền đánh cá vào bờ. Trong cuộc tìm kiếm sau đó,
PASF phát hiện ra nơi cất giấu tạm thời máy phát tín hiệu radio RS-1 của
điệp viên CIA.
Tiếp đó diễn ra cuộc tìm kiếm
từng nhà, tập trung vào các gia đình có mối quan hệ với miền Nam và
chính quyền thực dân Pháp trước đây. Thông tin từ hai người dân đã giúp
nhanh chóng chấm dứt việc tìm kiếm. Một dân làng thông báo nhìn thấy
người lạ sống trong ngôi nhà gần bãi biển, người lạ này từng ngoảnh mặt
đi khi hai bên chạm mặt nhau trên đường. Người dân thứ hai nhìn thấy vài
người từ ngôi nhà trên bãi biển đã sử dụng một chiếc bút bi - một vật
dụng thời đó rất hiếm ở miền Bắc.
Trong 4 tháng tiếp đó, Văn
phòng CIA tại Sài Gòn và đối tác là Văn phòng Liên lạc Tổng thống (PLO)
tiến hành thêm ít nhất 3 điệp vụ đơn độc xâm nhập miền Bắc bằng đường bộ
hoặc đường biển. Sự kỳ vọng vào những điệp vụ này rất khiêm tốn với mục
tiêu chính là sự sống sót của điệp viên.
Trước khi chuyển giao nhiệm vụ
cho Phái bộ Viện trợ quân sự Mỹ ở VN (MACSOG), trong 4 năm (1961-1964),
CIA và các đồng sự từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã tổ chức
được 28 nhóm biệt kích xâm nhập miền Bắc VN bằng hàng không và đường
biển.
Ngoài ra, CIA còn tiến hành 8
điệp vụ xâm nhập khác bằng đường biển và đường bộ đều do một điệp viên
đảm nhận. Cùng việc hỗ trợ CIA, chính quyền VNCH cũng tổ chức một số
nhóm biệt kích riêng để xâm nhập miền Bắc.
Văn phòng CIA tại Sài Gòn cho
rằng trong số này chỉ có 5 nhóm (bao gồm 4 nhóm biệt kích nhảy dù) là có
giá trị khi chuyển giao cho MACSOG, còn lại đều thất bại nặng nề. Tuy
nhiên, kết quả hoạt động bí mật và thu thập tin tình báo của 5 nhóm trên
cũng không có gì nổi bật. Những người đẻ ra chương trình này nhiều lúc
chỉ mong các điệp viên sống sót để biện hộ cho những nỗ lực, sự mạo hiểm
và chi phí đã bỏ ra.--PageBreak--
Nguyễn Cao Kỳ và nhóm "Con hải ly"
Nửa đêm 27/5/1961, CIA lần đầu
tiên tiến hành điệp vụ xâm nhập miền Bắc Việt Nam bằng biệt kích nhảy
dù. Phi công Nguyễn Cao Kỳ, người sau này trở thành Thủ tướng VNCH, lái
máy bay dân sự hai động cơ C-47 đưa nhóm biệt kích Castor (Con hải ly)
bí mật bay vào không phận miền Bắc trong đêm trăng sáng. Được đánh giá
cao về khả năng phát hiện mục tiêu nhảy dù trong đêm trăng, Nguyễn Cao
Kỳ sau đó còn nhiều lần trực tiếp lái máy bay đưa biệt kích ra miền Bắc
VN.
Nhóm "Con hải ly" nhảy dù xuống
khu vực đã định trước thuộc tỉnh Sơn La với mục tiêu sẽ lẩn quất trong
khu vực thuộc đường số 6 và có thể thực thi nhiệm vụ giám sát sự ủng hộ
của VNCH cho các nhóm nổi dậy tại khu vực này.
Phi công Nguyễn Cao Kỳ thông
báo hoàn thành nhiệm vụ, trong khi Văn phòng CIA tại Sài Gòn ngày càng
lo lắng khi chờ đợi tín hiệu liên lạc đầu tiên qua radio.
"Con hải ly" được tuyển lựa kỹ
và CIA đặt kỳ vọng sẽ sống sót ở khu vực xa xôi vốn không có người Kinh
sinh sống. Trên thực tế, nhóm "Con hải ly" nằm gọn trong tay lực lượng
Bắc VN chỉ 4 ngày sau khi nhảy dù. Cuộc nhảy dù này diễn ra gần một trạm
radar ở huyện Mộc Châu. Mặt khác, dân làng cũng thông báo về tiếng động
lạ phát ra từ máy bay trong đêm khi bay qua các ngôi làng xa xôi của
họ. Dù đã tính toán từ trước, nhưng điểm nhảy dù của các điệp viên CIA
chỉ cách một trong những ngôi làng kia 1km.
Lực lượng An ninh nhân dân của
miền Bắc chỉ mất 3 ngày để tiếp cận và bao vây "Con hải ly". Chưa nổ
súng, nhóm biệt kích đã đầu hàng.
Mất tích
Trong khi đó, chưa biết sự việc
trên, CIA và PLO cho nhóm biệt kích nhảy dù Echo (Tiếng vang) xâm nhập
miền Bắc ngày 2/6/1961. Theo kế hoạch, nhóm Echo đổ bộ xuống vị trí gần
với nhóm Castor, chếch về phía đông nam. Theo báo cáo của phi công, mọi
việc diễn ra suôn sẻ, tưởng như việc xâm nhập thành công.
Tuy nhiên, cũng như Castor,
nhóm Echo không liên lạc trong 3 tuần đầu tiên. Khi Echo phát tín hiệu
đầu tiên, nhưng sai quy ước, Văn phòng CIA tại Sài Gòn cho rằng có thể
họ thực hiện trong tình trạng căng thẳng, lo lắng, nhưng cũng nghi ngờ
các tín hiệu trên phát đi trong điều kiện nhóm biệt kích đã bị lực lượng
của Bắc Việt kiểm soát.
Trong khi các quan chức CIA tại
Sài Gòn đau đầu tranh cãi về các khả năng có thể xảy ra, trên thực tế
Echo cũng chịu chung số phận như nhóm biệt kích nhảy dù đầu tiên. Echo
nhảy dù xuống gần một ngôi làng từ máy bay dân sự C-47 và bị dân làng
phát hiện. Lần phát tín hiệu đầu tiên ngày 23/6 thực ra không bị kiểm
soát bởi lực lượng miền Bắc VN. Nhóm Echo sau đó bị bắt giữ khi đang
trên đường chạy trốn tới biên giới Lào.
Ngày 7/9/1961, Echo gửi về Văn
phòng tại Sài Gòn thông điệp rõ ràng "đã bị bắt" và ngày hôm sau nhắc
lại thông điệp trên. Tuy nhiên, Văn phòng CIA tại Sài Gòn đã không báo
cáo về Tổng hành dinh chi tiết này vì vẫn cố nuôi hy vọng.
Trong khi đó, Tổng hành dinh
CIA (ở Mỹ) bắt đầu lo ngại về sự im lặng của nhóm Castor và Echo. Ngay
cả khi Echo phát tín hiệu liên lạc đầu tiên (ngày 23/6), nhưng có dấu
hiệu bất thường cũng khiến CIA lo lắng.
Chưa biết rõ số phận của hai
nhóm trên, nhưng CIA vẫn quyết định cho nhóm thứ ba Dido (Chơi khăm)
nhảy dù xuống phía tây bắc tỉnh Lai Châu ngày 29/6. Cũng như hai nhóm
biệt kích trước, lo ngại của Washington trở thành hiện thực khi Dido bị
tống vào nhà giam chỉ 4 tuần sau khi nhảy dù. Dido chạm trán với nhóm
tuần tra PASF khi đang leo đồi tìm nơi phát tín hiệu vô tuyến và bị
bắt.
Trong quá trình huấn luyện,
Dido được CIA đánh giá là nhóm nổi trội nhất trong 3 nhóm biệt kích nhảy
dù đầu tiên được đào tạo để xâm nhập miền Bắc. Trên thực tế, Dido đã
kịp gửi tin báo về tình hình của họ và giải thích lý do im lặng trong
thời gian dài là phải dò tìm sóng vô tuyến điện.
Đến cuối tháng 7/1961, cả 3
nhóm biệt kích nhảy dù đều bị bắt khi xâm nhập vào miền Bắc VN, trong
khi CIA ở Sài Gòn và ở Mỹ tiếp tục nuôi hi vọng.
Đâm lao phải theo lao
Tổng hành dinh CIA tại Mỹ nổ ra
tranh cãi về nhóm Dido và sự mất tích bí ẩn của một máy bay dân sự làm
nhiệm vụ tiếp tế cho nhóm Castor. Tổng hành dinh CIA và Văn phòng Sài
Gòn căng thẳng quanh việc có nên tiếp tục mạo hiểm tiếp tế cho các nhóm
biệt kích.
Tổng hành dinh CIA còn nói rằng
Đài Phát thanh Hà Nội đã hé mở nhiều thông tin liên quan đến 3 nhóm
biệt kích trên và có thể họ đã chuẩn bị sẵn sàng. Tuy nhiên, có lẽ vì
không muốn thừa nhận thất bại, cuối cùng Tổng hành dinh CIA chấp thuận
vẫn tiếp tế nếu chưa có bằng chứng về việc cả 3 nhóm biệt kích đã nằm
trong tay lực lượng Bắc VN.
Ngày 1/8/1961, CIA thậm chí còn
thông báo nhóm Castor sẽ nhận được tiếp tế vào đêm đó mà chưa biết rằng
nhóm biệt kích này đã bị bắt giữ 4 ngày sau khi nhảy dù (27/5) xuống
Sơn La
Tổng hành dinh CIA còn cho rằng
các nhóm biệt kích cần tiến hành ngay giai đoạn hai là tổ chức và trực
tiếp xây dựng mạng lưới tình báo. Tổng hành dinh cũng đề xuất thiết lập
các "vùng an toàn", nơi các nhóm biệt kích đứng ra tổ chức cho dân địa
phương chống lại lực lượng an ninh miền Bắc VN. Tuy nhiên, CIA tại Sài
Gòn cho rằng kế hoạch này sẽ khiến các nhóm biệt kích nhanh chóng bị xóa
sổ và khẳng định phải bí mật thực hiện việc phá hoại, gây rối.
Ngày 17/8/1961, Tổng hành dinh
CIA chất vấn rằng vì sao không cho các nhóm biệt kích nhảy dù xuống gần
nơi người thân trong gia đình, họ hàng của họ sinh sống để ít nhất có
thể lẩn trốn an toàn trong những ngày đầu.
Phải tới tháng 4/1962, Tổng
hành dinh CIA mới khẳng định được thực tế cả 3 nhóm biệt kích nhảy dù
trên đều rơi vào tay lực lượng an ninh miền Bắc VN. Không nhóm biệt kích
nào trong số này thu thập và gửi về được thông tin tình báo có giá trị.
Ngoài 3 nhóm trên, CIA còn cử
một điệp viên khác nhảy dù xuống miền Bắc VN làm nhiệm vụ tuyển mộ người
đưa tin. Tuy nhiên, chi tiết về điệp viên này chưa được tiết lộ.
|
| Tàu của điệp viên CIA sử dụng xâm nhập miền Bắc. |
Trong khi CIA vẫn đặt nhiều kỳ
vọng vào chiến dịch bí mật xâm nhập miền Bắc, Hà Nội được biết đã bắt
đầu triển khai các hoạt động phản gián một cách cẩn trọng để tìm hiểu sự
thật về các nhóm biệt kích của CIA và PLO.
Trở lại câu chuyện về một máy
bay dân sự làm nhiệm vụ tiếp tế cho nhóm Castor bị mất tích. Ngày
1/7/1961, máy bay này vào một sân bay của Việt Nam Cộng hòa (VNCH),
nhưng sau đó biến mất. Sau này CIA mới biết rằng chuyến bay tiếp tế ngày
1/7 đã bị rơi ở miền Bắc VN. Hai thành viên của phi hành đoàn có thể
biết rất ít thông tin về nơi họ bay đến. Tuy nhiên, phi công nằm trong
số người sống sót và anh ta phải biết rõ nơi cần bay tới và cả sứ mệnh
của mình.
Ba người sống sót trong chuyến
bay này phải ra trước phiên tòa xét xử công khai vào tháng 11/1961 ở
miền Bắc. Những người sống sót thừa nhận làm nhiệm vụ tiếp tế cho các
hoạt động nổi dậy, nhưng khai rằng nơi họ đến là một địa điểm xa xôi ở
tỉnh Hòa Bình, cách xa vị trí mà nhóm Castor đã nhảy dù ở Sơn La.
Sau vụ này, đài phát thanh từ
Hà Nội phát thông điệp với các dân tộc sống ở miền núi rằng hãy hợp tác
với lực lượng an ninh. Theo phân tích của CIA tại Sài Gòn, Hà Nội đang
triển khai chiến dịch rộng lớn nhằm chống lại sự xâm nhập, phá hoại từ
các điệp viên của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Đổ lỗi cho... máy bay
Sau các sự kiện trên, CIA thừa
nhận các điệp vụ xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng không chỉ có kết quả
"hạn chế" và lý do duy nhất để tiếp tục theo đuổi chiến dịch là "chưa có
các biện pháp khác để đạt được mục tiêu". Bước sang năm 1962, CIA quyết
định tạm ngừng chiến dịch biệt kích nhảy dù để triển khai các điệp vụ
xâm nhập bằng đường bộ và đường biển.
Theo Văn phòng CIA tại Sài Gòn,
việc tạm ngừng trên là để đòi hỏi các loại máy bay phù hợp hơn. Tầm bay
hạn chế của máy bay hai động cơ C-47 buộc nó phải tiếp nhiên liệu tại
Đà Nẵng trước khi bay thẳng tới vùng Tây Bắc VN. Sĩ quan CIA cho rằng
việc mất máy bay tiếp tế cho nhóm Castor vào tháng 7/1961 một phần cũng
vì lý do trên. CIA tiến hành thảo luận với Lực lượng không quân Mỹ để có
được máy bay 4 động cơ DC-4.
Trong khi đó sĩ quan Nguyễn Cao
Kỳ được giao trách nhiệm tuyển mộ phi công để sẵn sàng khi máy bay DC-4
tới VNCH vào khoảng tháng 12/1961. Người Mỹ trực tiếp huấn luyện cho
nhóm phi công người Việt để nâng cao kỹ năng bay thấp trong đêm. Cuối
tháng 2/1962, sau nhiều tuần cân nhắc, CIA đi nước cờ mạo hiểm tiếp theo
khi cho nhóm Europa nhảy dù xuống một ngôi làng ở vùng Tây Bắc VN.
| Điện viên CIA xâm nhập miền Bắc bằng đường biển năm 1963. |
Ngày 12/3/1962, Europa phát tín
hiệu về Sài Gòn thông báo "an toàn". Việc tiếp tế cho Europa sau đó
không thành do mất tín hiệu liên lạc, nhưng Sài Gòn cho rằng chỉ do thời
tiết xấu. Đến đầu tháng 6/1962, CIA tại Sài Gòn báo cáo với Tổng hành
dinh rằng Europa vẫn an toàn. Khả năng "thành công" của Europa khuyến
khích CIA tại Sài Gòn tổ chức tiếp điệp vụ tiếp tế cho nhóm biệt kích
đầu tiên Castor dù vẫn bặt vô âm tín. Nguyễn Cao Kỳ cùng đội bay của
mình thực hiện chuyến bay cuối cùng liên quan đến các điệp vụ xâm nhập
miền Bắc của CIA.
Trong khi đó, một đội bay khác
điều khiển chiếc DC-4 bay tới Sơn La. Do gặp thời tiết xấu, chiếc SC-4
đâm vào núi, nhưng CIA tại Sài Gòn cho rằng Hà Nội không biết vụ việc
trên nên nhóm Castor vẫn an toàn.
Tự huyễn hoặc về sự thành công
của nhóm Europa, đầu năm 1962, CIA bắt đầu tăng cường các điệp vụ xâm
nhập miền Bắc VN qua lãnh thổ Lào. Ngày 12/3, sau khi đã thám sát, CIA
cho máy bay trực thăng thả 4 thành viên nhóm Atlas xuống khu vực thuộc
lãnh thổ Lào, gần với tỉnh Nghệ An. Atlas tiến về một ngôi làng ở phía
đông để tìm 2 linh mục được biết là có tư tưởng chống Cộng.
Sau 4 ngày quan sát, Atlas bất
ngờ chạm trán với một cậu bé. Ngay sau đó, lực lượng quân sự địa phương
xuất hiện khiến Atlas phải tháo chạy trở lại lãnh thổ Lào. Một điệp viên
bị bắn chết và 1 tên khác bỏ mạng vì giẫm phải mìn. Hai tên còn lại cố
truyền tín hiệu vô tuyến để thông báo tình hình, nhưng cũng sớm bị bắt
giữ. Phải tới khi 2 tên này xuất hiện trước phiên tòa xét xử công khai,
CIA mới biết rằng chúng đã rơi vào tay Lực lượng An ninh nhân dân miền
Bắc VN (PASF) từ ngày 5/4/1962.
Ngày 16/4/1962, nhóm biệt kích
Remus gồm 6 thành viên người Thái đen nhảy dù xuống lãnh thổ Lào ở vị
trí cách Điện Biên Phủ 15 km về phía tây bắc. Do đồ ăn bị hỏng, Remus
yêu cầu Văn phòng CIA tại Sài Gòn cung cấp lại thực phẩm và đã được đáp
ứng ngay. Tuy nhiên, yêu cầu quá đáng của nhóm điệp viên như "thịt gà và
vịt phải có màu vàng tươi" của nhóm điệp viên khiến quan chức CIA ở Mỹ
bị sốc.
CIA cảm nhận được sức ép ngày
càng tăng do chưa đạt được bất kỳ thành quả nổi bật nào nên tiếp tục
tăng cường các điệp vụ xâm nhập. Đêm 17/5/1962, máy bay DC-4 đưa 7 thành
viên nhóm chuyên phá hoại Tourbillon nhảy dù xuống vị trí định sẵn cũng
ở Sơn La. Tourbillon không ngờ PASF đã đón lõng ở phía dưới và thậm chí
còn đốt lửa để chỉ dẫn cho nhóm biệt kích nhảy dù trong khi chúng vẫn
tưởng rằng đó là ám hiệu của nhóm điệp viên đã xâm nhập từ trước.
Gió mạnh khiến Tourbillon nhảy
dù trượt vị trí, nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát của PASF. Con mồi đầu
tiên là trợ lý của trưởng nhóm khi tên này đang lò dò trèo xuống từ
ngọn cây và bị bắn gục bởi trước đó đã nã súng vào lực lượng đang truy
đuổi hắn. Những điệp viên khác bị bao vây và bị bắt chỉ trong vài ngày.
An ninh Bắc Việt che đậy vụ đón
lõng trong khi tiếp tục truy tìm máy phát tín hiệu vô tuyến của nhóm
Tourbillon. Các tín hiệu không rõ ràng mà an ninh Bắc Việt phát đi từ
máy phát của nhóm biệt kích khiến CIA tại Sài Gòn lầm tưởng rằng
Tourbillon đã được đón tiếp bởi nhóm biệt kích trước đó dù đã mất 1
thành viên trong một vụ tai nạn. Đến ngày 20/6, CIA vẫn đinh ninh rằng
Tourbillon đang thực hiện các hoạt động phá hoại.
Trong khi đó, ngày 20/5, nhóm
Eros nhảy dù xuống vùng núi cao ở tỉnh Thanh Hóa, sát biên giới với Lào.
Vụ xâm nhập này dường như thoát được sự chú ý của PASF. Năm biệt kích
người Mông (Lào), người Thái nhảy dù xuống khu vực là nơi trú ngụ của cả
hai dân tộc trên và hạ trại ở một nơi kín đáo. --PageBreak--
Trong khi nhóm biệt kích đang
bí mật liên hệ với người trong bộ tộc, một số dân bản phát hiện trại của
nhóm biệt kích khiến chúng phải chạy trốn tới phía Bắc. Việc phát hiện
ra các vỏ thùng thức ăn có nhãn hiệu nước ngoài thu hút cả PASF và các
đơn vị quân đội Bắc Việt cùng tham gia truy đuổi. Sau hai tuần không
phát hiện được gì, lực lượng Bắc Việt tạm ngừng cuộc truy tìm.
Ngày 20/6, Eros báo về Sài Gòn
về tình cảnh của chúng và yêu cầu được tiếp tế ngay lương thực. CIA hứa
sẽ thực hiện vào đầu tháng 7, nhưng không có vụ tiếp tế nào với lời giải
thích rằng do thời tiết xấu. Đói khát, nhóm Eros bỏ lại tất cả và mạo
hiểm đi tìm thức ăn. Ngày 2/8, dân làng một lần nữa phát hiện ra người
lạ.
Lực lượng an ninh Bắc Việt mở
lại cuộc truy tìm. Ngày 2/9, PASF bao vây Eros, tiêu diệt 1 tên, bắt
sống 1 tên. Ba tên còn lại chạy thoát qua biên giới Lào, nhưng ngay sau
đó bị lực lượng ở phía Lào bắt giữ và giao cho Bắc Việt.
Người nhái và điệp vụ Vulcan
Tổng thống Kennedy nhắc lại yêu
cầu về các hành động chống lại Bắc Việt đòi hỏi khai thác mọi nguồn
lực. Đây là lý do để CIA tại Sài Gòn triển khai kế hoạch huấn luyện cho
nhóm người nhái gồm 18 tên. CIA chọn mục tiêu phá hoại là căn cứ hải
quân của Bắc Việt ở Quảng Khê, nằm bên sông Gianh, cách Đồng Hới 40 km
về phía bắc. Các thông tin tình báo, bao gồm cả cuộc thám sát của tàu
ngầm USS Catfish cho biết, căn cứ Quảng Khê là nơi trú ngụ của ít nhất 3
tàu Swatow có trang bị súng máy.
Ngày 30/6/1962, CIA cho tàu
Nautilus III đưa nhóm 4 người nhái tới cửa sông Gianh. Tại đây, người
nhái dùng bè bơi dọc bờ sông để thám thính trước khi trở về tàu. Một con
thuyền nhỏ đưa nhóm người nhái ngược lên phía trên để tiếp cận đội tàu
trang bị súng máy của Bắc Việt.
Mỗi người nhái được giao nhiệm
vụ tấn công 1 tàu Swatow bằng cách bơi tới gần và gắn mìn nổ chậm. Trên
thực tế, cả 3 người nhái đều tới mục tiêu an toàn, nhưng một trong những
quả mìn nổ chậm đã phát nổ sớm hơn khi chúng đang cố bơi ra xa.
Vụ nổ phá hủy con tàu, nhưng
cũng khiến cả 3 người nhái thiệt mạng. Súng máy bắn từ tàu của Bắc Việt
tiêu diệt người nhái thứ tư và làm bị thương thuyền trưởng tàu Nautilus
trước khi phá hỏng tàu, bắt giữ những kẻ khác trên tàu. Chỉ 1 kẻ trên
tàu không bị lực lượng Bắc Việt phát hiện và đã bám vào mảnh vỡ của tàu
Nautilus để bơi xuôi xuống phía nam. Ngày hôm sau, hắn được tàu tuần tra
của Nam Việt Nam cứu sống.
CIA tại Sài Gòn báo cáo về Tổng hành dinh: "Điệp vụ thành công, trả giá đắt".
Tham vọng
Tới cuối tháng 7/1962, Văn
phòng CIA tại Sài Gòn đang chuẩn bị cho 20 nhóm mới, hầu hết được giao
sứ mệnh phá hủy bằng việc xâm nhập vào miền Bắc VN. Điệp vụ Vulcan khiến
tham vọng của CIA ngày càng tăng.
Cuối tháng 8, Tổng thống Mỹ
Kennedy phê chuẩn các nội dung của chiến dịch tăng cường hoạt động chống
lại Bắc Việt. Tổng hành dinh CIA ngay lập tức yêu cầu Văn phòng tại Sài
Gòn xác định những mục tiêu cụ thể và phương cách để tấn công.
Ngày 29/8, CIA tại Sài Gòn đệ
trình chiến dịch chi tiết bao gồm cả việc tấn công cảng Hải Phòng, kho
quân sự ở Vinh, cầu ở Thanh Hóa và sử dụng 100 biệt kích tấn công vào
một cơ sở thông tin. CIA còn có kế hoạch cử các đội biệt kích sử dụng
thuyền tốc độ cao để tấn công cầu, phà và các cơ sở quân sự nằm biệt lập
dọc đường 1, phía bắc Thanh Hóa.
Tham vọng hơn, CIA muốn phái
các nhóm biệt kích 14 người từ lãnh thổ Lào xâm nhập vào miền Bắc VN qua
đường 7 và 8... để thực hiện sứ mệnh cắt đứt tuyến đường sắt tại 5 thậm
chí 10 vị trí. Một nhóm khác, theo lịch trình bắt đầu vào tháng
12/1962, sẽ lẩn quất ở vùng núi tây nam tỉnh Lạng Sơn để tấn công cắt
đứt tuyến đường sắt và đường bộ từ Trung Quốc vào miền Bắc VN. Có tới
800 mục tiêu ở miền Bắc sẽ bị tấn công theo kế hoạch mới của CIA.
Tuy nhiên, Văn phòng CIA tại
Sài Gòn khuyến cáo Tổng hành dinh tại Mỹ rằng phải mất 4-6 tháng để xác
định vị trí, vạch kế hoạch, huấn luyện, thực hiện sứ mệnh của một nhóm
và cần 4-5 tháng chỉ để đào tạo một điệp viên sử dụng thành thạo thiết
bị truyền tín hiệu vô tuyến. Với những áp lực trên, Văn phòng Sài Gòn
cho rằng khó có thể triển khai chương trình mới cho tới cuối năm 1962
Hầu hết các điệp vụ xâm nhập miền Bắc
Việt Nam được CIA tiến hành trong năm 1963 bằng nhiều phương cách. Do
thất bại ngoài sức tưởng tượng, CIA thậm chí bắt đầu nghi ngờ một số
nhóm xâm nhập vào miền Bắc VN trở thành điệp viên hai mang. Thất bại nối
tiếp thất bại, bắt đầu từ năm 1964, CIA buộc phải chuyển giao sứ mệnh
xâm nhập miền Bắc VN cho quân đội Mỹ.
Với việc Hiệp định Geneva có ảnh hưởng từ ngày 6/10/1962, chính quyền Mỹ muốn che đậy hoạt động tại miền Bắc VN. Tuy nhiên, CIA có được sự đồng thuận của Tổng thống (7/9/1962) trong việc tiếp tế cho 1 trong 4 nhóm vẫn còn hoạt động - hoặc được tin là đang hoạt động - tại miền Bắc VN. Sau ngày 6/10, Nhà Trắng cho tạm ngừng tất cả "hành động khiêu khích", bao gồm cả các cuộc tấn công phá hoại thậm chí của những nhóm biệt kích đang có mặt ở miền Bắc VN.
Trên thực tế, vào những tháng cuối cùng của năm 1962, thậm chí nếu không bị giới hạn bởi các chính sách hậu Hiệp định Geneva, CIA tại Sài Gòn cũng đối mặt với khó khăn chồng chất, đặc biệt là thời tiết ở miền Bắc VN. Tháng 1/1963, nhóm Tarzan nhảy dù xuống đất Lào sau đó xâm nhập qua biên giới vào khu vực gần đường 12 của miền Bắc VN. Ngay trước đó, vào ngày cuối cùng của năm 1962, Lyre, nhóm biệt kích đầu tiên do Sở Chính trị và Nghiên cứu xã hội Phủ Tổng thống (SEPES) của Trần Kim Tuyến tài trợ, cũng xâm nhập vào bờ biển Bắc VN bằng thuyền. Tuy nhiên, hầu hết các nhóm biệt kích khác đã được huấn luyện sẵn sàng, nhưng không có động tĩnh gì.
Nhóm Lyre xâm nhập vào vùng duyên hải gần Đèo Ngang, cách nơi diễn ra điệp vụ Vulcan khoảng 25 km về phía bắc. Cuối tháng 1/1963 (4 tuần sau khi xâm nhập), CIA tại Sài Gòn không nhận được bất kỳ thông điệp nào từ Lyre.
Trên thực tế, 5 thành viên Lyre bị bắt tại chỗ, 2 tên khác chạy trốn xuống phía nam, nhưng vài ngày sau cũng chịu chung số phận. Nhóm Tarzan có vẻ thành công hơn khi ba lần truyền được tín hiệu từ khu vực gần đường 12 dù không rõ ràng. Hà Nội thông báo công khai vào ngày 29/5/1963 về việc nhóm biệt kích Lyre bị bắt.
Chiến dịch ba gọng kìm
Bất chấp Tổng hành dinh ở Mỹ gia tăng nghi ngờ về kết quả của các điệp vụ đầu năm 1963, CIA tại Sài Gòn sẵn sàng cho một chiến dịch tổng lực theo kiểu ba gọng kìm nhằm phá hoại miền Bắc VN.
Đến tháng 4/1963, có tới 48 nhóm biệt kích chờ để nhảy dù, xâm nhập bằng đường biển, đường bộ vào miền Bắc. Theo kế hoạch, 18 nhóm sẽ nhảy dù nếu yêu cầu cung cấp máy bay mới được đáp ứng; 11 nhóm khác sẽ vào bằng đường biển; còn lại 17 nhóm vẫn chưa xác định phương cách.
Đầu tháng 4/1963, nhóm Pegasus nhảy dù xuống miền Bắc. Thông tin ban đầu cho biết có tới 4 điệp viên bị thương do nhảy trúng ngọn cây. Ngày 13/4, CIA tại Sài Gòn cho nhóm biệt kích 6 tên người miền núi đổ bộ xuống vùng núi cách Hà Nội 75 km về phía đông bắc. Mục tiêu của nhóm này là tuyến đường sắt từ Hà Nội chạy tới Trung Quốc.
Cũng như trước đây, hai nhóm điệp viên này đều mất tích hoặc biết rõ đã bị bắt, nhưng điều kỳ lạ là CIA tại Sài Gòn không điều tra lý do thất bại mà lại đẩy mạnh hơn nữa các đợt xâm nhập mới. Tháng 6, Hà Nội cho biết nhóm Pegasus đang “bóc lịch” trong tù.
Tháng 5, CIA cho 3 nhóm nhảy dù xuống miền Bắc, nhưng chỉ có Jason đáp xuống mặt đất ngày 14. Máy bay chở hai nhóm khác (trong đó có nhóm Europa gây nhiều rắc rối sau này) phải quay trở lại do thời tiết xấu và gặp rắc rối về kỹ thuật. Phi công báo cáo, dù của tất cả thành viên Jason đã mở, nhưng nhóm này cũng mất liên lạc.
Hai tuần đầu của tháng 6, hai máy bay DC-4 của CIA thả 7 nhóm điệp viên xuống miền Bắc. Hai nhóm đổ bộ xuống vùng núi cao có thể nhìn xuống sông Hồng và mục tiêu là tuyến đường sắt phía Tây Bắc. Một được giao nhiệm vụ tấn công cầu và mỏ than ở phía bắc Hải Phòng.
Theo kế hoạch, hai nhóm khác sẽ tấn công các cầu dọc đường số 1. Hai nhóm còn lại lẩn khuất dọc đường số 7 và 12 dẫn sang Lào. Chỉ có 1 trong 7 nhóm trên liên lạc với Sài Gòn và thông báo an toàn sau 10 ngày nhảy dù xuống. Nhóm Bell bị bắt sau 3 ngày xâm nhập
Điệp viên hai mang
Tháng 6, CIA tiến hành thêm nhiều điệp vụ nhảy dù và xâm nhập bằng đường biển khác, nhưng tỉ lệ thành công gần như bằng không. Lý do thất bại được CIA tại Sài Gòn báo cáo về Tổng hành dinh một cách đơn giản rằng vì thời tiết xấu và phương tiện kỹ thuật không vận hành tốt. Ngoài việc xâm nhập, các đợt tiếp tế của CIA thời gian này cũng thất bại thảm hại và lại được giải thích là do thời tiết xấu hoặc phi công không tìm được vị trí của các nhóm nhảy dù trước đó. Bước vào năm 1963, CIA được cung cấp hàng loạt máy bay hiện đại C-123 và DC-4 để phục vụ tốt hơn cho điệp vụ nhảy dù, tiếp tế, nhưng kết quả dường như tồi tệ hơn. Ngày 2/7, máy bay C-123 đưa nhóm Giant nhảy dù xuống vùng núi phía tây thành phố Vinh.
Ngày 4/7, máy bay DC-4 thả nhóm Packer xuống nhằm phá hoại tuyến đường sắt Tây Bắc và sau đó đưa nhóm Europa tới địa điểm khác ở gần Hà Nội. Chiếc DC-4 có tầm bay xa hơn, được trang bị hệ thống định vị hiện đại và cả thiết bị tránh sự phát hiện của rađa chở nhóm Europa không bao giờ quay trở lại Sài Gòn.
Do không có phản ứng nào từ Hà Nội, CIA tại Sài Gòn kết luận chiếc DC-4 không bị lực lượng phòng không miền Bắc Việt Nam bắn hạ mà va vào núi cao khi bay ở tầm thấp.
Lại tự huyễn hoặc về khả năng vượt trội của loại máy bay mới có thể tránh được mọi nguy hiểm từ dưới mặt đất, CIA không ngờ rằng miền Bắc VN di chuyển 10 đơn vị phòng không tới khu vực mà nhóm Europa từng nhảy dù xuống. Giữa tháng 8/1963, chiếc C-123 làm nhiệm vụ tiếp tế cho nhóm Europa bất ngờ bị pháo phòng không của ta tấn công. Cơ trưởng của chiếc C-123 này may mà thoát được. Sau đó bị chấn thương tâm lý nặng về vụ suýt chết trên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét