Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Chuyện lạ về hoàng tử triều Nguyễn “sống bám vỉa hè“

Thành Thái là vị vua thứ 10 của triều đình nhà Nguyễn, do tinh thần dân tộc nên bị giặc Pháp ép thoái vị, đi đày suốt 31 năm ròng rã. Năm 1947 trở về quê hương, vương triều này lại bị giặc Pháp dùng thủ đoạn thâm độc phân tán các hoàng tử mỗi người một nơi.
Trong số 17 hoàng tử con vua Thành Thái, hoàng tử thứ 7 tên Nguyễn Phước Vĩnh Giu cùng con cháu vương triều sống rải rác khắp nhiều tỉnh miền Tây. “Con vua thất thế lại ra quét chùa”, số phận của con cháu vua Thành Thái đa phần chua chát, người chạy xe ôm, người bán vé số, người làm bảo vệ.

Mang tiếng là hoàng tử nhưng ông Nguyễn Phước Vĩnh Giu (SN 1922, hoàng tử thứ 7 con vua Thành Thái) lại không một ngày được sống trong nhung lụa. Hoàng tử phải bôn ba nhiều việc để kiếm sống: từ công nhân cầu đường, mở hiệu sửa chữa xe đạp, đóng bàn ghế, làm thêm ở một số phòng trà, quán bar rồi cuối đời chết trong cảnh nghèo khó.

Ký ức ngang tàng

Ông Nguyễn Phước Bảo Tài (SN 1964, con trai hoàng tử Vĩnh Giu, cháu nội vua Thành Thái) hiện đang sống ở gần con rạch Ba Hiệp (ấp Nhơn Hưng, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, Cần Thơ). Lối đến nhà vị hoàng tôn (cháu vua) là con đường mòn sâu hun hút dọc theo con rạch, hai bên cỏ dại mọc ngang người. Nơi “thâm sơn cùng cốc” này lại là nơi thờ tự của một vị vua, một hoàng tử.

Mới bước vào cửa nhà ông Bảo Tài, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt khách là bàn thờ đơn sơ nhưng toát lên vẻ trang trọng với di ảnh là vua Thành Thái chỉnh tề trong áo bào màu đỏ, đội mũ xung thiên (một loại mũ chỉ dành cho vua triều Nguyễn); phía dưới là di ảnh của hoàng tử Vĩnh Giu, phong thái rất trí thức với áo vét và cặp kính trắng.

Biết nhiều chuyện “thâm cung bí sư” của gia tộc, ông Bảo Tài hiểu khá rõ về cha mình và ông nội. “Tôi sống cùng cha từ nhỏ nên biết nhiều chuyện về cha và ông nội, cả những ngày bị lưu đày ở tận châu Phi”, ông nói nói.

Trước đây khi còn sống, người cha thường kể chuyện về ông nội cho đứa con nghe. Ngày trẻ tuổi, vua Thành Thái được học cả chữ Nôm, chữ Hán và tiếng Pháp, đọc nhiều sách vở nên hiểu biết toàn diện.

Bởi vậy dù bị giặc Pháp khống chế gắt gao nhưng ông là một vị vua có tinh thần dân tộc và nhận kết cục bị giặc ép thoái vị, đày đi nước ngoài. Sau khoảng thời gian “bước đệm” bị quản thúc ở Vũng Tàu, năm 1916 vua và toàn bộ gia tộc bị lưu đày ra đảo Réunion ở châu Phi, một thuộc địa của Pháp.

“Ở đó ông nội thuê một căn nhà, sống khá khép kín, sinh thêm được bảy người con, trong đó có cha tôi”, ông Tài nói.

Vị hoàng tôn này cho biết thêm, dù bị lưu đày nhưng vua Thành Thái vẫn giữ được một lối sống nề nếp, gia phong, phân công việc rạch ròi cho từng người. “Khi đó cha tôi có nhiệm vụ lo bữa ăn sáng cho ông nội và tìm lá trầu. Khi đó tìm lá trầu rất vất vả, chỉ vài gia đình người Việt sống ở đó trồng cây trầu làm kiểng, cha thường ghé đến mua”, hoàng tôn nhớ lại.

Không xao nhãng chuyện học hành của con cái, vua Thành Thái xin con vào học ở một chủng viện Thiên chúa giáo, nơi dành cho người nghèo và dân bản địa. Ngoài ra, ông tự dạy tiếng Hán và tiếng Pháp cho con.

“Bà nội tôi là Hoàng phi Chí Lạc, người xứ Huế, rất cam chịu, đảm đang, giỏi thơ văn. Để hướng con cái nhớ về cội nguồn dân tộc, bà dạy cha và các cô chú bác tôi nói tiếng Việt, viết chữ Nôm; ngoài ra còn dạy múa hát, đàn ca sáo nhị. Sau này về già, cha tôi vì thế vẫn giữ thói quen hay ngân nga đàn sáo”, vị hoàng tôn nhắc lại trong niềm tự hào.

Hoàng tử thất thế sống bám vỉa hè

Sau 31 năm bị lưu đày, năm 1947 vua Thành Thái được thực dân Pháp cho về nước, nhưng thành viên trong gia đình bị chia rẽ, không được sống chung. Bản thân cựu hoàng sống ở Vũng Tàu, đến khi chết được rước về Huế chôn cất cùng tổ tông. Trong khi đó, các hoàng tử mỗi người phiêu bạt một nơi, tất cả đều được chính quyền bảo hộ theo dõi gắt gao, nếu thấy ai có biểu hiện chống đối thì chúng sẵn sàng trừ khử.

Giặc Pháp còn thâm độc triệt tiêu đường học hành của con cháu cựu hoàng, thực hiện chính sách “ngu dân” để trừ hậu hoạ. Hậu duệ vương triều này không được học hành tử tế, cũng là nguyên nhân khiến sau này nghèo khó vì không có nghề nghiệp, việc làm.

 Vua Thành Thái.

Sau một thời gian được sống với cựu hoàng ở Vũng Tàu, năm 1949 hoàng tử Vĩnh Giu bị giặc ép xuống Cần Thơ. “Ba tôi kể, khi mới xuống đây bị giặc theo dõi “nhất cử nhất động”. Nhờ người dân che chở nên ông được an toàn.

Sau sáu tháng, ông xin được vào làm công nhân ở ty công chánh chuyên làm cầu đường”, ông Tài nhớ lại. Sau mấy chục năm bôn ba khắp miền Tây làm công nhân xây dựng cầu đường, ông tha thẩn về ở rể trên đường Phan Đình Phùng (phường An Lạc, quận Ninh Kiều, Cần Thơ), trưng biển sửa chữa, bơm vá xe đạp.

Cuộc sống càng thêm khó khăn khi vợ chồng hoàng tử sinh đến 6 người con trai và 1 con gái. “Để có tiền nuôi chúng tôi, má bán mía lạnh, chuối nướng ở trước cửa nhà. Còn ba ngoài sửa xe đạp còn đi mua ve chai, đóng bàn ghế cho những người chở cá ở chợ.

Nhờ ca hát, vũ công giỏi, đặc biệt có khiếu đánh đàn tỳ bà, đàn tranh nên ban đêm ba tôi đi làm thêm ở một số phòng trà, quán bar kiếm thêm tiền”, vẫn lời ông Tài.

Ông Tài cho biết, cả gia đình ông sống ở Cần Thơ đến 50 năm mà không ai biết cha con ông là hậu duệ vua Thành Thái. Chỉ đến khi vào khoảng năm 2005, khi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt ghé thăm ông Vĩnh Giu, mọi người mới giật mình biết chuyện.

 Hoàng tử Vĩnh Giu.

“Cha tôi sống ẩn dật và kín tiếng, chỉ nói những gì cần nói”, ông Tài nhớ về cha. Có lẽ được trực tiếp vua cha dạy dỗ trong thời gian lưu đày, ông Vĩnh Giu vẫn giữ được phong thái của một hoàng tử, dù thất thế. Dù phải làm những nghề không được nhiều người coi trọng, sống trong nghèo khó nhưng ông vẫn giữ được cho mình một lối sống kiểu cách, nho nhã.

“Cha tôi từ nhỏ đến lúc mất chỉ ăn bằng dĩa chứ không ăn bằng chén bát như những người bình thường. Đôi khi bữa ăn rất đơn giản, chỉ cần một dĩa cơm với bát muối ớt, bát mỡ hành. Đặc biệt cha tôi thích ăn bánh mỳ chấm sữa và khoai tây chiên”, ông Tài hồi tưởng. Những buổi sáng và chiều tối, ông hay đeo giày thể thao, mặc quần cộc, áo phông đi tập thể dục, uống cà phê thư giãn.

Những lúc rảnh rỗi, vị hoàng tử này mở đài phát thanh nghe tình hình thời sự, thậm chí còn nghe cả đài tiếng Pháp. “Cha tôi hay theo dõi mảng chính trị thế giới, đọc vanh vách tên và tiểu sử các vị nguyên thủ quốc gia, những người nổi tiếng thế giới. Ông không chỉ nghe, mà còn đoán biết được xu thế thời cuộc”.

Nói một hồi, ông Tài sực nhớ: “Ngày tôi còn trẻ chưa hiểu sâu mọi chuyện, khi ấy tôi đã nghe cha dự cảm rằng Mỹ Ngụy trước sau cũng bị đánh đổ. Về sau, lịch sử đã chứng minh dự cảm của cha tôi là đúng”.

Nghi án loạn luân chấn động triều Nguyễn

Nguyễn Phúc Cảnh là con trưởng của vua Gia Long. Sau khi ông mất thì người được vua Gia Long chọn nối ngôi không phải là Mỹ Đường – con trai của hoàng tử Cảnh mà là hoàng tử Đảm – em trai của hoàng tử Cảnh.

Tuy nhiên, 5 năm sau khi Nguyễn Phúc Cảnh mất, vợ cùng con trai ông đã bị kết án thông dâm với nhau và bị xử dìm chết…

Cuộc đời đầy vất vả của hoàng tử Cảnh

Hoàng tử Cảnh tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Cảnh sinh năm Canh Tý (1780) ở Gia Định. Mẹ của hoàng tử Cảnh là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu - con quan Chưởng Doanh Tống Phúc Khuông.

Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu sinh được 2 con trai: hoàng tử Chiêu và hoàng tử Cảnh. Không may là hoàng tử Chiêu mất từ khi còn nhỏ tuổi. Vào tháng 11 năm Giáp Thìn (1784), hoàng tử Cảnh lên 4 tuổi, vâng lệnh cha, theo cha Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện.

Hành trình sang phương Tây của vị hoàng tử trẻ tuổi khi đó đã được ghi lại trong sử sách. Đó là vào tháng 2 xuân Ất Tỵ (1785), hoàng tử Cảnh đến 1 vùng thuộc địa của Pháp ở Ấn độ nhưng phải tạm dừng chờ ở đây vì ở Pháp lúc đó đang có biến.

Đến tháng 6 năm Bính Ngọ (1786) thì bắt đầu sang Pháp bằng thuyền và tháng 2 năm Đinh Mùi (1787) đến Paris. Do hoàng tử Cảnh không thạo tiếng Pháp nên được xếp cho ở cùng với Bá Đa Lộc ở Hội Truyền giáo nước ngoài.

Vào ngày 5/5/1787, hoàng tử Cảnh vào triều kiến ở Versailles. Chuyện kể rằng hoàng tử Cảnh rất khôi ngô, tuấn tú nên được triều đình Pháp chú ý.

Giám mục đã thuê Léonard (người hầu chải đầu cho Hoàng Hậu Marie Antoinette) sửa tóc cho hoàng tử, bỏ khăn nhiễu thay bằng khăn lĩnh đỏ thắt múi.

Rồi triều đình Pháp lại may cho hoàng tử 1 bộ y phục kiểu Pháp pha Á đông, bỏ áo dài, quần lụa và thuê họa sĩ Maupérin vẽ chân dung Hoàng tử Cảnh trong trang phục đó.

 Bá Đa Lộc.


Bức tranh này được trưng bầy ở Hàn lâm viện Hội họa và Điêu khắc năm 1791, sau do Hội Truyền giáo nước ngoài ở Paris giữ. Trong thời gian hoàng tử Cảnh ở Pháp, còn có 1 bài thơ được làm để chào đón hoàng tử Cảnh và được đọc trong bữa tiệc ở Versailles:

Ta hãy bắt đầu bằng hài đồng nổi tiếng
Mà số phận đáng cho ta lưu ý
Sinh ra để đội mũ miện
Nay lại ngồi chung với chúng ta.
Hoàng tử bé bỏng ơi, hãy vui lên
Một ngày kia Hoàng tử sẽ lên ngôi”

Ngày 28/11/1787, cha Bá Đa Lộc và bá tước de Montmorin, ngoại trưởng Pháp, đã ký Hiệp ước Versailles với nội dung: Pháp sẽ ủng hộ quân sự cho vua Gia Long chống Tây Sơn với điều kiện Nguyễn Ánh nhường cho Pháp một số vùng đất và cho Pháp giữ độc quyền thương mại.

Đến tháng 12 năm 1787, hoàng tử Cảnh của Bá Đa Lộc lên đường về Việt Nam. Đến ngày 24/6/1789 thì cả 2 người về tới Nam kỳ.

Sau khi cùng Bá Đa Lộc về nước, tháng 3 năm Giáp Dần (1794), hoàng tử Cảnh lên 14 tuổi, được lập làm Đông Cung Thái Tử, phong chức Nguyên Súy Quận Công.

Hoàng tử Cảnh được ban Đông Cung Chi Ấn, dựng phủ Nguyên Súy, đặt văn võ đại thần, việc nhỏ do các đại thần phân xử, việc lớn bẩm súy phủ quyết định.

Theo sử sách chép lại rằng, hoàng tử Cảnh thiên tư sáng suốt, hiếu học và ưa lời nói thẳng. Vậy nên vua Gia Long cũng rất chăm lo đến việc giáo dục Ðông Cung.

Ngoài sư phó Bá Đa Lộc, ngay sau khi hoàng tử Cảnh chính vị Đông Cung, vua đã cho dựng nhà Thái học, đặt Ngô Tòng Chu vào chức phụ đạo, lại có 2 thị giảng, 8 hàn lâm viện thị học.

Trong số này có Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định là những người nổi tiếng giỏi giang. Cả hai cùng với 6 Quốc tử giám thị học, ngày 2 buổi giảng bàn kinh sử với hoàng tử Cảnh.

Hoàng tử Cảnh nói gì, làm gì, thị học đều phải ghi chép, mỗi tháng một lần dâng lên vua xem. Tháng 10 năm Ất Mão (1795), vua Gia Long lại sai Phó tướng Tả quân Phạm văn Nhân làm Phụ đạo.

Tháng 4 năm Mậu Ngọ (1798), vua Gia Long tiếp tục sai Ngô Tòng Chu cùng Lễ bộ kiêm Đốc học Nguyễn Thái Nguyên Phụ đạo Đông Cung. Đến tháng 4 năm Canh Thân (1800), lấy hàng thần là Nguyễn Gia Cát, Tiến sĩ nhà Lê, làm Đốc học hầu Đông Cung.

Tuy nhiên, do từ nhỏ, hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc sang Pháp. Rồi hoàng tử ăn ở chung sống với Bá Đa Lộc, được dạy dỗ theo đạo Thiên Chúa nên tỏ ra rất quyến luyến Bá Đa Lộc và rất mộ đạo.

Khi vua Gia Long nghe các quan can gián về việc không nên để hoàng tử Cảnh quá gần gũi với Bá Đa Lộc đã quyết định cho Hoàng tử ra ở riêng ở Đông Cung thì Bá Đa Lộc vẫn kín đáo đến thăm.

Không những thế, Bá Đa Lộc cũng thường chọn ngày quân hầu là người có đạo để dễ xem lễ. Bản thân hoàng tử Cảnh cũng rất mộ đạo.

Hoàng tử thường tỏ ra phiền muộn vì chưa được chịu phép rửa tội, xin Bá Đa Lộc dậy phép rửa tội, phòng khi bệnh nặng mà bên mình không ai có đạo thì chỉ cách để người ta rửa tội cho mình.

Sách sử còn chép rằng khi ở Pháp về, Hoàng tử Cảnh không chịu bái yết Tôn Miếu, nhờ Cao Hoàng Hậu khéo dậy, sau mới đổi tính. Hay như trong cuốn “Đại Nam Việt Quấc triều Sử ký” có viết: “Sau khi Đức Thầy (Bá Đa Lộc) qua đời thì tính nết ông Đông Cung khác lắm.

Vì ông ấy buông mình theo tính xác thịt, đắm mê tửu sắc, chẳng còn tưởng nhớ gì đến sự đạo nữa. Song khi thấy mình đau nặng gần chết thì mới nhớ đến Ðức Chúa Trời, cùng ra sức giục lòng ăn năn tội, và xin quan nhỏ kia có đạo làm phép rửa tội cho mình kín đáo không ai biết”.

Hoàng tử Cảnh thể hiện mình là 1 người rất tôn trọng đạo đức, đôi khi hơi câu chấp. Khi thầy học Ngô Tòng Chu giảng một thiên Nhạc ký, hoàng tử Cảnh bình rằng: “Người đời xưa làm nhạc để cảm động đến Trời Đất, quỷ thần. Nay cúng tế ở Miếu, theo tục dùng bọn nữ nhạc, chèo hát, rất là vô vị”.

Tính cách của hoàng tử Cảnh được nhận xét là biết phải trái, chỉ vì còn trẻ nên đôi khi hơi câu nệ. Một phần nữa cũng là vì hoàng tử Cảnh còn thiếu kinh nghiệm sống nên thường đặt hết lòng tin vào các sư phó, phụ đạo của mình.

Nên khi các sư phó và phụ đạo sai thì hoàng tử cũng sai theo. Chuyện kể lại rằng khi đó ở đất Gia Định, rất nhiều người dân theo đạo Phật. Vì vậy, có nhiều người muốn trốn sai dịch bèn tìm cách vào chùa để ở.

Trong khi đó, có một nhà sư tên Cao phạm tội và vua Gia Long muốn xử chết. Vua Gia Long đã truyền lệnh các sư tăng dưới 50 tuổi vẫn phải chịu sai dịch như người thường.

Nghe lệnh của nhà vua, nhiều quan lại trong triều đình có ý muốn ngăn cản nên vua Gia Long cũng đang chần chừ chưa quyết định. Lúc bấy giờ Ngô Tòng Chu, thầy học của hoàng tử Cảnh vì trọng đạo Nho nên đã nói với hoàng tử Cảnh rằng việc vua Gia Long bài trừ đạo Phật như thế là rất tốt.

Hoàng tử Cảnh nghe theo, dâng sớ chỉ trích những điều không tốt của nhà sư. Cũng từ bản sớ này của hoàng tử Cảnh mà vua Gia Long đã quyết tâm đưa ra mệnh lệnh những nhà sư dưới 50 tuổi vẫn phải đi sai dịch. Đây được xem là một hành xử thiếu hiểu biết thực tế của hoàng tử Cảnh.

Và nghi án thông dâm giữa vợ và con hoàng tử Cảnh

Hoàng tử Cảnh kết duyên với Tống thị Quyên, sinh được 2 con trai là Mỹ Đường (còn có tên khác là Đán) và Mỹ Thùy (còn tên khác là Cảnh). Mùa Xuân năm Tân Dậu (1801), hoàng tử Cảnh bị bệnh đậu mùa.

Ông mất vào ngày 7 tháng 2 năm Tân Dậu (tức 20 tháng 3 năm 1801) hưởng dương 21 tuổi. Ngày Hoàng tử Cảnh mất, chúa Nguyễn Phúc Ánh đang ở ngoài mặt trận nên không thể dự đám tang của con được. Nguyễn Phúc Cảnh được an táng tại Bình Dương, Gia Định.

 Tranh của Hoàng tử Cảnh.


Năm Ất Sửu (1805), hoàng tử Cảnh được truy phong là “Anh Duệ Hoàng thái tử”. Một nhà nghiên cứu lịch sử đã nhận định về cuộc đời của hoàng tử Cảnh rằng: “Mới 3 tuổi đầu đã phải bị đưa làm con tin, lênh đênh khắp chân trời góc biển, đó là một bạc phước.

Ở ngôi Đông cung chưa được bao lâu, tuổi thanh xuân đang bừng sức sống mà bỗng dưng mắc bệnh đậu mùa rồi mất, đó là 2 lần bạc phước.

Hành trạng của Hoàng tử Cảnh đúng sai thế nào, hậu thế sẽ bàn sau, nhưng xét phận riêng đắng cay chìm nổi như thế, kể cũng là đáng thương lắm thay”.

Sau khi hoàng tử Cảnh mất, hoàng tử Đảm được chọn để nối ngôi và trở thành vua Minh Mạng sau này.

Về việc vua Gia Long chọn hoàng tử Đảm nối ngôi chứ không chọn hoàng tôn Đán được “Đại Nam chính biên liệt truyện” viết: Trước đây, thấy vua (Gia Long) ở ngôi mà tuổi đã cao, các quan liền xin lập ngôi trừ vị trong số đó, có người đề nghị thẳng là nên lập Hoàng tôn Đán nhưng vua không nghe.

Sau, Gia Long lập Nguyễn Phúc Đảm (tức vua Minh Mạng), em cùng cha khác mẹ với Hoàng tử Cảnh, làm người nối ngôi”.

Thái độ cương quyết của vua Gia Long trong việc chọn hoàng tử Đảm còn được thể hiện qua lời nói của ông: “Khi người ta chết đi mà còn để lại món nợ trên đời, thì chủ nợ chỉ tìm con, chứ đâu đòi cháu. Việc này ý ta đã quyết, các ngươi chẳng nên bàn tính thêm”.

Lí giải về việc vua Gia Long quyết chọn hoàng tử Đảm thay vì hoàng tôn Đán, một số nhà sử gia cho rằng, do thái tử Cảnh và hoàng tôn Đán chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Gia Tô từ Pháp nên sau khi hoàng tử Cảnh qua đời, vua Gia Long không chọn cháu đích tôn của mình làm người người kế vì sợ những ảnh hưởng của Pháp tới triều đình.

Hoàng tử Đảm vốn là người hay bài xích đạo Gia Tô và không có cảm tình với người Pháp, tư tưởng này giống với Gia Long. Ngoài ra, hoàng tử Đảm cũng nổi tiếng là người thông minh, cương nghị, hội tụ đầy đủ những tố chất để có thể đảm đương việc nước.

Vậy nên, từ năm 1815, hoàng tử Đảm được phong Hoàng thái tử và từ đó sống ở điện Thanh Hoà để quen với việc trị nước. Sau khi vua Gia Long mất, hoàng tử Đảm nối ngôi, lấy hiệu là Minh Mạng.

Đến năm Minh Mạng thứ 5 (1824) có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ là Tống Thị Quyên.

Vua Minh Mạng đã rất giận dữ, lệnh: “Hành vi của chúng còn hơn chó lợn. Mụ đàn bà lăng loàn ấy, đáng phải bị dìm chết. Ngươi hãy thi hành ngay lệnh của ta. Còn Mỹ Đường, ta nể tình anh trai mà tha cho nó, nhưng từ nay, ta không muốn nhìn thấy nó nữa”.

Theo một số tài liệu khác thì để thực thi lệnh của nhà vua, Hoàng thái phi Tống Thị Quyên bị mấy tên lính canh áp giải dẫn đi trong bộ dạng tóc tai rũ rượi.

Bà bị giam trong 1 phòng riêng, không bị xiềng xích, được ăn uống đầy đủ, có giường nệm tử tế, có nước tắm rửa và bô để đi đại tiểu tiện. Thế nhưng, bà hết sức đau khổ vì bị buộc tội thông dâm với con ruột.

Bà không được bày tỏ kêu oan, mà chỉ có mỗi một việc phải thừa nhận tội lỗi của mình, để rồi sau đó, bị “xử” dìm nước cho chết.

Sau khi bị kết tội thông dâm với mẹ đẻ, Mỹ Đường bị gạch tên trong sổ hoàng tộc, bị giáng làm thứ dân, con cháu chỉ được ghi chép phụ phía sau sổ tôn thất.

Một năm sau, Mỹ Đường đi thăm con, lại bị vu là bỏ trốn và tâu vua, ông lại bị bắt và canh giữ, sau mới được tha. Sau khi Mỹ Đường bị tội, dòng hoàng tử Cảnh chỉ còn người con thứ là Mỹ Thùy được giữ tước hiệu hoàng tộc để hương khói cho cha.

Được 2 năm, Mỹ Thùy qua đời mà không có con nên con trai của Mỹ Đường là Nguyễn Phúc Lệ Chung được phục hồi hoàng tịch để thờ cúng hoàng tử Cảnh.

Thế nhưng 10 năm sau, vào năm 1836, dường như lo sợ dòng trưởng (tức chi tộc hoàng tử Cảnh) sẽ phát triển qua Lệ Chung nên Minh Mạng lại giáng tất cả con trai, con gái của ông ta xuống làm thứ dân.

Trừ 1 người lo hương khói là Lệ Chung, còn toàn bộ con cháu của hoàng tử Cảnh đều phải an phận dân thường.

Đến năm 1847, Tự Đức, cháu nội của Minh Mạng, lên ngôi thì bố vợ của vua Tự Đức là Đông Các đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn dâng sớ kể công lao của hoàng tử Cảnh xin cho phép ghi tên con cháu Mỹ Đường vào tôn phả và trợ cấp cho Mỹ Đường.

Tuy nhiên, yêu cầu này của Vũ Xuân Cẩn bị vua Tự Đức hẹn xét lại sau. Đến năm 1848, khi án này chưa được xét lại thì Mỹ Đường đã bị chết trong nghèo khó.

Cùng trong năm đó kinh thành có dịch bệnh, Tự Đức nghĩ có oan khuất gì đó nên trời mới giáng họa. Cũng nhân cơ hội này, một nhóm quan lại 30 người cùng dâng sớ nhắc lại việc cho phép con cháu Mỹ Đường trở lại hoàng tộc.

Vua Tự Đức chấp nhận, do vậy hậu duệ của hoàng tử Cảnh mới được trở lại dòng dõi hoàng tộc. Trong số hậu duệ của hoàng tử Cảnh có 1 nhân vật khá nổi tiếng, đó là Kỳ Ngoại hầu Cường Để, là cháu 6 đời của vua Gia Long, người từng tham gia phong trào Đông du với Phan Bội Châu.

Về nghi án thông dâm đầy kì lạ, có một không hai trong lịch sử triều Nguyễn này, "Đại Nam chính biên liệt truyện" đã ghi lại rằng: “Năm Minh Mạng thứ năm (1824), có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ ruột là Tống thị.

Tống thị vì thế bị Lê Văn Duyệt dìm nước cho chết, còn Mỹ Đường thì phải giao trả hết ấn tín và dây thao, đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân, con trai con gái chỉ được biên chép phụ ở phía sau sổ tôn thất.

Năm Minh Mạng thứ bảy (1826), Mỹ Thùy lại bị quân lính ở đạo Dực Chẩn kiện, sắp bị đưa cho đình thần nghị tội thì Mỹ Thùy bị bệnh mà mất, lúc ấy chưa có con cái gì .

 Vua Minh Mạng.


Vua cho lấy con trưởng của Mỹ Đường là Lệ Chung, tập phong làm Ứng Hòa Hầu để lo việc phụng thờ Anh Duệ Hoàng thái tử (tức Hoàng tử Cảnh)...

Đến năm thứ tám (1827), đổi phong (Lệ Chung) làm Thái Bình Hầu... Năm Minh Mạng thứ mười bảy (1836), vì sợ con cái của Lệ Chung nhờ cha mà hưởng phúc ấm, nên triều thần lại tiếp tục nghị tội, buộc con trai con gái của Lệ Chung là Lệ Ngân, Thị Văn, Thị Dao đều phải giáng làm thứ nhân.

Mãi đến năm Tự Đức thứ hai (1848), khi Mỹ Đường bị bệnh mất, dòng dõi của Hoàng tử Cảnh mới tạm yên ở phận dân thường”.

Có một câu chuyện dân gian lưu truyền rằng, vợ của hoàng tử Cảnh là Tống Thị Quyên – người bị mắc vào cái án thông dâm với con ruột đã từng mộng trước được điều này.

Chuyện kể là sau khi sinh Mỹ Đường được không lâu thì Tống Thị Quyên mơ một giấc mộng khủng khiếp. Trong giấc mơ, người vợ yêu của thái tử Nguyễn Phúc Cảnh thấy rằng mình đang bị nhấn chìm trong một biển nước đục ngầu.

Khi càng cố vùng vẫy thì biển càng như rộng ra và Tống Thị Quyên thấy mình bị cuốn đi trong dòng nước xoáy đó. Tỉnh dậy, Tống Thị Quyên hết sức lo lắng.

Tống Thị Quyên đã kể lại cho Hoàng tử Cảnh nghe. Nghe xong giấc mộng của người vợ, thái tử Cảnh chấn an rằng: “Ái phi chớ quá lo lắng mà có hại cho sức khỏe. Ta sẽ luôn ở bên cạnh nàng”. Thế nhưng, lời hứa đó của thái tử Cảnh đã không giữ được khi hoàng tử Cảnh bị mất sớm vì bệnh đậu mùa.

Tranh cãi quanh vụ án thông dâm kỳ lạ

Trong sách “Việt sử giai thoại” nhận định: “Thời ấy, có 2 tội thuộc hàng đại ác không thể tha, ấy là bất trung và thất đức.

Bất trung thì con trai trưởng của Hoàng tử Cảnh chẳng có biểu hiện gì, vậy thì Minh Mạng muốn được yên vị trên ngai, ắt phải khép Mỹ Đường vào tột thất đức là thông dâm với mẹ. Ôi, giá mà Mỹ Đường chẳng phải cháu đích tôn của Gia Long thì đời ông sẽ yêm thấm biết ngần nào...”.

Trong ý kiến này, một số nhà nghiên cứu phân tích rằng việc hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng) lên ngôi là do sự quyết định của vua Gia Long chứ không phải do mưu mô, giành giật mà chiếm được ngai vàng.

Tuy nhiên, đối với những phản ứng bất lợi của một số triều thần mà sau 5 năm trị vì nhà vua vẫn không dẹp nổi, có thể vua Minh Mạng đã ra tay “trừ hậu hoạn”.

Bởi nếu các con Đông Cung chết, hoặc không còn hi vọng lên nối ngôi thì bọn phản thần, bọn làm giặc ... sẽ như rắn không đầu, còn dựa vào đâu mà mưu mô mà chống đối.

Và cũng có thể vì vụ này mà lệ “Tứ bất lập” (không lập Chánh Cung, không lập Đông Cung, không lập Tể tướng, không lấy ai đỗ Trạng Nguyên) của nhà Nguyễn ra đời.

Ngoài ra, có một sự thật là vào năm 1833, Lê Văn Khôi đã dùng chiêu bài tôn phò hoàng tôn Mỹ Đường để nổi loạn. Vậy nên, đây cũng có thể là một cuộc thanh trừ chính trị của vua Minh Mạng.

 Tuy nhiên, đâu là sự thật thì cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời. Và vụ án thông dâm giữa vợ và con hoàng tử Cảnh vẫn là một trong những nghi án bí ẩn bậc nhất triều Nguyễn.

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Hội thảo khoa học “Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng”


(QT) - Nhân kỷ niệm 455 năm chúa Nguyễn Hoàng dựng đô khởi nghiệp ở Quảng Trị (1558 - 2013) và 400 năm ngày mất của ông (1613 -2013), UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học “Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng”. Tham dự hội thảo về phía Trung ương có Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật, Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam; các giáo sư, nhà khoa học, nhà nghiên cứu ở Trung ương, khu vực và địa phương. Về phía tỉnh Quảng Trị có đồng chí Nguyễn Đức Chính, UVTVTU, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các Ban Đảng, Văn phòng Tỉnh ủy, các sở, ban, ngành cấp tỉnh và huyện Triệu Phong. 


Lãnh đạo tỉnh và các giáo sư, nhà khoa học, nhà nghiên cứu tham dự hội thảo


Chúa Nguyễn Hoàng, vị chúa Nguyễn đầu tiên có công lao to lớn đối với hành trình vĩ đại khai phá xứ Đàng Trong và mở mang bờ cõi về phía Nam, sinh năm 1525, là con trai thứ của An Thành Hầu Nguyễn Kim, người đã phò vua Lê Trang Tông để trung hưng lại nhà Lê từ năm 1533. Sinh thời, Nguyễn Hoàng đã nổi tiếng là một vị tướng tài, văn võ kiêm toàn, được vua Lê phong tước Đoan Quận Công. Năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng mang sứ mệnh của vua Lê vào trấn nhậm xứ Thuận Hóa, khi ấy nổi tiếng còn là vùng đất “Ô châu ác địa”, sau đó đến Quảng Nam, phát triển thành một lực lượng hùng mạnh. Vùng đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng mở rộng từ Thuận Hóa đến bắc Phú Yên, nhưng căn cứ đều xây dựng trên đất Quảng Trị. Trấn dinh đầu tiên đặt ở thị trấn Ái Tử, năm 1570 dời sang Trà Bát, đến năm 1600 lại dời về đông Ái Tử tức Dinh Cát. Trong những năm trấn nhậm ở đây, với chính sách khoan hòa rộng mở, biết hội nhập và kế thừa, sử dụng nhân tài giúp sức, ông đã biến Thuận Hóa thành một xứ sở trù phú, giao thương tấp nập, một trung tâm chính trị, văn hóa mới ở phương Nam.

Qua dòng chảy của thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, thiên tai trên mảnh đất khắc nghiệt này, các di tích thời chúa Nguyễn Hoàng bị hủy hoại nhiều, do vậy chưa hội đủ điều kiện để nhìn nhận, đánh giá khách quan, khoa học những vấn đề lịch sử đặt ra cho Nguyễn Hoàng và vùng đất Quảng Trị trong buổi đầu lập nghiệp. Hội thảo lần này là dịp để làm sáng tỏ những vấn đề cốt lõi như tại sao chúa Nguyễn chọn mảnh đất Quảng Trị đặt làm trụ sở chính quyền lúc dựng nghiệp; vị thế và đóng góp của Quảng Trị trong sự nghiệp kinh dinh, đặt cơ sở cho công cuộc mở cõi của chúa Tiên... Ban tổ chức hội thảo đã nhận được 43 báo cáo của các nhà khoa học trong cả nước đề cập và tham luận đủ các khía cạnh về chúa Nguyễn Hoàng và công cuộc dựng nghiệp của ông.

Trong khuôn khổ hội thảo, các nhà khoa học đã tập trung thảo luận vào đời chúa khởi nghiệp, chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) và vùng đất dấy nghiệp Quảng Trị theo ba chủ đề chính gồm: quê hương, thân thế và sự nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng; Nguyễn Hoàng với vùng đất Quảng Trị; tư liệu, di tích Nguyễn Hoàng và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị.

Phát biểu tại hội thảo, đồng chí Nguyễn Đức Chính, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đã cảm ơn sự phối hợp đầy trách nhiệm, nhiệt tình của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, ghi nhận những nỗ lực cố gắng của lãnh đạo huyện Triệu Phong và Sở KH&CN để tổ chức hội thảo.

Với những kết quả thu nhận được qua hội thảo khoa học lần này, thay mặt lãnh đạo tỉnh, đồng chí yêu cầu UBND huyện Triệu Phong và Sở VH,TT&DL cần có những biện pháp tuyên truyền, giới thiệu một cách hữu hiệu, thiết thực kết quả hội thảo đến đông đảo các tầng lớp nhân dân về các giá trị di sản, di tích Nguyễn Hoàng và chúa Nguyễn trên đất Quảng Trị; tiến hành thu thập chứng cứ, khảo sát, khai quật khảo cổ để hoàn chỉnh hồ sơ trình Bộ VH, TT&DL xếp hạng di tích Quốc gia đối với hệ thống di tích, di sản này.

Ngoài ra, huyện Triệu Phong cần từng bước hoàn thiện kịch bản khung Lễ hội dân gian truyền thống Ái Tử - đất khởi nghiệp của xứ Đàng Trong nhằm làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân; phối hợp với Hội đồng tư vấn đặt tên đường phố và các công trình công cộng của tỉnh nghiên cứu, rà soát đưa vào danh mục tên các danh nhân, nhân vật lịch sử để sử dụng đặt tên cho các tuyến đường và công trình công cộng tại Ái Tử, Triệu Phong và tỉnh Quảng Trị.
                                                        Tin, ảnh: THANH TRÚC

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

HỘI NGỘ CỰU HỌC SINH NGUYỄN HOÀNG LẦN THỨ HAI TẠI ĐỒNG NAI

TẠI ĐỒNG NAI - Phạm Hòa Việt

CHS NGUYỄN HOÀNG tại Đồng Nai tổ chức họp mặt lần thứ II tại Khu Du Lịch Suối Tre vào ngày 21 tháng 7 năm 2013, một ngày rất  đẹp trời sau những ngày mây mưa ảm đạm.

Trong buổi họp mặt, ngoài CHS Nguyễn Hoàng Đồng Nai còn có sự tham dự của chính quyền địa phương, các thầy, cô: Hồ Ngọc Thanh, Phan khắc Đồ, Nguyễn Đức Đô, Hoàng Văn Nhạc, Lê Văn Phương, Dương Đình Giảng, Võ Thị Hồng, Hồ Thị Tương, Phan Ngọc Lan  và Ban Liên Lạc các tỉnh/ thành: Quảng Trị,Thừa Thiên- Huế, Đà Nẳng, Bình Thuận, Bà Rịa- VT, TP. Hồ Chí Minh… Ngoài ra, còn có các vị khách mời và đại diện BBT một số trang Web.



Buổi họp mặt diễn ra trong khung cảnh tươi vui, thân thiết, đầm ấm, đầy cảm xúc và hứa hẹn, với gần 300 người tham dự.

Thầy Hồ Ngọc Thanh và các Ban liên lạc phát biểu cảm tưởng; thầy Nguyễn Đức Đô ngâm thơ; các ban nhạc trình diễn nhạc cụ violon, organ, ghi ta ... với những tiếng hát gửi về quê hương Quảng Trị, nhớ trường xưa… hòa quyện quanh những lẳng hoa tươi đẹp, những câu chuyện buồn vui, tiếng cười và nước mắt rưng rưng, nâng những ly rươu mừng giao lưu … khiến một ngày trôi qua tràn đầy ý nghĩa…

Sau đây là lời phát biểu khai mạc của Trưởng ban tổ  chức:     


                      

Kính thưa chính quyền địa phương, quý thầy cô và quý khách;

Kính thưa các anh chị  đồng môn trong tỉnh và tỉnh bạn!

Tôi xin thay mặt Ban liên lạc Cựu học sinh trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị tại Đồng Nai nhiệt liệt chào mừng qúy thầy cô  và các anh chị đồng môn đã bỏ thời giờ vàng ngọc đến tham dự buổi họp mặt hôm nay. Tôi cũng xin gửi tới bằng hữu các tỉnh/thành đến tham dự họp mặt  lời chào nồng nhiệt nhất.


Sau thời gian chuẩn bị, chúng tôi rất vinh dự đứng ra tổ chức buổi họp mặt Cựu học sinh trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị lần thứ hai tại Đồng Nai trên phạm vi toàn tỉnh. Cuộc họp mặt hôm nay đánh dấu sự tái ngộ thiêng liêng của thầy trò chúng ta sau 4 năm hội tụ và gần 40 năm xa trường, xa lớp. Ngôi trường đã cho chúng ta có chung nhau bao kỷ niệm buồn vui suốt thời gian học tập, được hấp thụ nguồn linh khí quê hương làm hành trang trong suốt chặng đường mưu sinh khắp 4 phương; để rồi từ sâu thẳm trái tim của những đứa con xa quê, nguồn linh khí quê hương được sẻ chia ngày ấy thôi thúc chúng ta cùng tìm đến nhau, siết chặt tay nhau mà lâng lâng kỷ niệm và hạnh phúc dâng tràn.


Song cuộc hội ngộ của chúng ta hôm nay không những để sống lại với những hoài niệm, mà hơn thế, nó minh chứng cho tình cảm quê hương thiêng liêng  và cho tình bằng hữu đồng môn thiết thân được gắn kết bởi khát vọng cùng nối một vòng tay lớn, cùng bắc một nhịp cầu cho thế hệ trẻ có truyền thống Nguyễn Hoàng bước vào tương lai.




Kính thưa qúy thầy cô,

Nhân cuộc họp mặt, cho phép em được thay mặt các anh chị đồng môn, bày tỏ lời cảm  ơn sâu sắc và chân thành đến tất cả qúy thầy cô, không chỉ các thầy cô có mặt hôm nay mà cả các thầy cô còn đang ở các phương trời xa cách khác; các thầy cô đã từng dạy dỗ nhiều thế hệ học sinh nên người, đã từng nối tiếp góp sức tạo dựng ngôi trường Nguyễn Hoàng một thời bề thế nhất của dãy đất miền Trung và phát triển mạnh mẽ theo chiều dài lịch sử trong gần 25 năm.


Cũng trong buổi họp mặt, chúng ta ngậm ngùi thương tiếc các thầy cô và  các anh chị đồng môn đã ra đi vĩnh viễn; những người còn lại vẫn khắc dấu tri ân, giữ chặt kỷ niệm êm đềm trong suốt hành trình còn lại.Trong giờ phút thiêng liêng đầy xúc cảm này, tôi đề nghị, chúng ta đứng dậy dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ các thầy cô và các bằng hữu đã ra đi về cõi vĩnh hằng.

Phút mặc niệm bắt  đầu.

Kính thưa các qúy vị,

Cũng như bốn năm về trước, chúng ta tiến hành buổi họp mặt vào thời  điểm mà các em học sinh vừa nghỉ hè, có  nhiều em là sĩ tử trong các kỳ thi tốt nghiệp phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, ... Những hình ảnh ấy gợi cho chúng ta niềm xúc động, niềm thương nhớ ngôi trường xưa gắn bó mà nay đã thay đổi tên gọi, cho chúng ta cảm giác trở lại với tuổi học trò, với lưu bút mùa hạ, với bạn bè thân yêu và nhất là với các thầy cô kính mến. Làm sao quên được hình ảnh các thầy cô trên bục giảng, đó là những hình ảnh mẫu mực mà trong suốt thời kỳ trung học hầu như học trò đều nhất nhất tôn vinh. Làm sao quên được hình ảnh các bạn cùng lớp, cùng trường, cùng thời thi đua đèn sách, thương yêu hờn giận đã trở thành kỷ niệm. Ngày nay, tuy mỗi người sinh sống một phương, công tác trong mỗi lĩnh vực khác nhau, nhưng khi nhắc đến tên trường Nguyễn Hoàng không ai không khỏi bồi hồi xúc động..

Nhớ lại lịch sử  ngôi trường Nguyễn Hoàng, thoạt đầu, chỉ một nhóm thân hào nhân sỹ ở thị xã Quảng Trị lập ra vào năm 1951, là trường trung học tư thục. Mãi đến năm học 1953-1954 mới mang tên trường trung học công lập Nguyễn Hoàng Quảng Trị. Theo dòng thời cuộc, có lúc trường Nguyễn Hoàng được dời vào Đà Nẵng nhưng tên gọi vẫn được giữ nguyên, học sinh vẫn chăm ngoan học tập. Sau gần 25 năm tồn tại, ngôi trường trung học công lập đầu tiên của tỉnh Quảng Trị không còn mang tên Nguyễn Hoàng - tên của Chúa Nguyễn mở cõi- nhưng những thế hệ cựu học sinh đã luôn đem theo hình ảnh ngôi trường làm hành trang lập nghiệp trên khắp hành tinh; từ anh nông dân đến chị tiểu thương, nhà khoa học, nhà lãnh đạo hay doanh nhân ...đã là cựu học sinh Nguyễn Hoàng, dù sống bất cứ nơi đâu vẫn giữ gìn và phát huy truyền thống đất học, trường học ấy... Qua mấy mươi năm xa cách ngôi trường thân yêu, hơn ba thập kỷ sau thời trung học Nguyễn Hoàng, nền giáo dục tỉnh nhà tuy có thay đổi nhưng đã ổn định và phát triển. Học sinh chúng ta thời ấy hầu hết nay đã qua tuổi trung niên, nhưng luôn canh cánh bên lòng niềm tự hào về xuất thân từ ngôi trường thân yêu ấy.


Kính thưa các quý  vị,

Cuộc họp mặt lần thứ  hai tuy có muộn màng về thời gian, nhưng vô cùng ý nghĩa. Trong thời gian chuẩn bị, chúng ta đã hình thành nền móng các cụm CHS theo huyện/thị/thành với nhiệt tình và tâm huyết. Chúng ta hãy quyết tâm hoàn chỉnh, duy trì và phát triển sinh hoạt của các CỤM CHS Nguyễn Hoàng mỗi quý một lần, thắt chặt tình đoàn kết đồng môn, tọa đàm trao đổi tâm tình, chia sẻ ngọt bùi nồng ấm. Chúng ta cần có chương trình tổ chức thăm hỏi gia đình các thầy cô, gia đình các đồng môn gặp hoàn cảnh khó khăn, đau ốm, ma tang, hiếu hỷ; thăm hỏi các thầy cô, các đồng môn đại thượng thọ và tạo điều kiện giúp đỡ cho học sinh của các gia đình đồng môn nghèo, hiếu học để các cháu tiến bước vững chắc vào tương lai. Với quyết tâm này, tôi đề nghị:

1- Cần xây dựng nhịp cầu nối các thế  hệ cựu học sinh Nguyễn Hoàng với thế hệ  trẻ Quảng Trị, qua đó một mặt giúp các em vững vàng bước vào tương lại, mặt khác, góp phần giữ gìn truyền thống hiếu học và mối liên hệ bền vững với quê hương;

2- Cần xây dựng và phát triển cả  về quy mô và tính chuyên nghiệp Quỹ BảoTrợ cựu học sinh Nguyễn Hoàng, thu hút được sự ủng hộ rộng lớn của các nhà hảo tâm gần xa; có nhiều họat động hỗ trợ hiệu quả hơn cho thể hệ trẻ như số lượng, hình thức và đối tượng nhận bảo trợ; hỗ trợ nhà trọ cho con em nghèo của cựu học sinh Nguyễn Hoàng đi học đại học-cao đẳng ở các nơi xa;,v.v...

Để thực hiện được mong muốn đó, rất cần sự chung tay của mỗi thành viên chúng ta. Hãy góp phần bắc nhịp cầu này đến tất cả các bạn đồng môn và đặc biệt giới thiệu mục đích, ý nghĩa Quỹ Bảo Trợ cho những nhà hảo tâm gần xa                    


Kính thưa các quý vị,

Thế giới đã dấn dần trở  nên gần gũi và bé nhỏ hơn ở trong mỗi người chúng ta khi cuộc cách mạng CNTT đã bùng nổ. Sự phổ biến khắp nơi của cellphone, internet, facebook, cùng rất nhiều thứ khác nữa đã cho chúng ta nhìn nhận thế giới một cách khách quan và toàn diện hơn. Cuộc sống không chỉ bó gọn trong một phạm vi gia đình vì kinh tế khó khăn mà cần phải vươn xa. Chúng ta đã lớn tuổi thì phải bắc nhịp cầu cho lớp trẻ bước vào tương lai. Tương lai thế hệ trẻ không chỉ giới hạn ở đất nước Việt Nam mà là bốn biển, năm châu trong cuộc hội nhập quốc tế. Hãy chuẩn bị thật đầy đủ để hòa nhập một cách bình đẳng, có hiệu quả và có bản sắc, đó là thông thạo ngoại ngữ, làm chủ công nghệ thông tin, cập nhật tri thức nhân loại, rèn luyện kỹ năng, giữ gìn và phát huy phẩm chất làm nên con người Việt Nam: Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín và có lòng dũng cảm…

Với niềm tin và hy vọng rằng, cuộc họp mặt hôm nay sẽ là tiền đề cho sinh hoạt cựu học sinh Nguyễn Hoàng những tháng năm kế tiếp, tạo sự gắn bó trong tình cảm thiết thân, xây dựng được chương trình bảo trợ cho thế hệ trẻ tương lai,  tôi xin chân thành chúc cuộc họp mặt cựu học sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị tại Đồng Nai thành công tốt đẹp.

Kính chúc quý thầy cô giáo, quý khách, các anh chị đồng môn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Xin trân trọng cám  ơn.

                                                                                      PHẠM HÒA VIỆT

NH6471 tại họp mặt Đồng Nai 21.07.2013

Chào quý thầy cô và các Bạn
Nhân dịp NH Đồng nai tổ chức họp mặt tại Suối Tre Long Khánh, NH6471 có một cuộc hội ngộ khá đông đủ và lý thú
NH6471 được đón những người bạn mà sau 42 năm mới đến với nhóm như Hòang Tĩnh (khối B anh văn), Ngô Trọng Hùng (Ngô Hai) và Lê Hai (khối C) cũng như vui mừng đón Nguyễn Hiếu từ Quảng trị, Nguyễn Cử và Nguyễn Quý từ Huế vào
Anh Tĩnh nhìn vào bàn các thầy cô hỏi có phải cô Lan dạy Vạn Vật 12 đó không, tôi trả lời đúng rồi, anh đến với cô đi, thế là cô trò gặp nhau
Giờ giải lao NH6471 hân hạnh được đón cô Võ Thị Hồng, cô Hồ Thị Tương, cô Phan ngọc Lan và thầy Phan Khắc Đồ ra chụp hình chung ngòai vườn cao su và khi vào tiệc ngòai cô Lan, cô Hồng ngồi chung với NH6471 (cô Tương kẹt phải ngồi bàn ăn chay), rất nhiều anh ở các đơn vị bạn đến chung vui với NH6471 (thầy Thanh, anh Lớn Danang, anh Lân BRVT, anh Phi NH6370, anh Tuyến Hàm tân,a. Phúc Đồng nai...)
Xin cảm ơn NH Đồng nai đã tạo điều kiện cho NH6471 được gặp nhau đầm ấm vui tươi
Rời Suối Tre đòan xe của Ngô Hướng gồm Hướng, Nguyễn Hiếu, vợ chồng Nguyễn Quý, Nguyễn Cử, Trần Văn Hảo và Bùi Phước Vĩnh qua nhà bạn Sử Sơn (BV Long Khánh) vui ca hát, tại đây Ngô Hướng chủ động ca khá nhiều bài rất hay, ngâm thơ và đặc biệt có hò nữa chứ, không ngờ anh bạn ít nói của chúng ta nhiều tài đến thế
Rời nhà Sử Sơn đòan xe đưa vợ chồng Nguyễn Quý về nhà người con trai đang công tác tại BV Long Khánh, tại đây tình cờ gặp anh Nguyễn văn Hùng CHS Hải lăng cùng khối lớp với NH6471, hỏi ra là thông gia với Nguyễn Quý nhà mình, vui vẻ cả, uống với nhau một ly rồi nhả vợ chồng Quý ở lại, chào nhau ra về lại Saigon, kết thúc một ngày trọn vẹn tại Long Khánh Đồng nai
Xin gởi đến quý Thầy cô và các anh chị hình ảnh của NH6471 trong ngày 21.07.2013
Kính chúc mọi sự tốt lành
Trần văn Hảo
9hqi.jpg
Trần Hửu Giáo và Hòang Tĩnh là 2 bạn cùng học Thánh Tâm qua Nguyễn Hòang sau 42 năm mới nhận ra nhau
c576.jpg
Trần Văn Hảo, Trần Hửu Giáo, Hòang Tĩnh, Nguyễn Ngọc Phụ, Ngô Hai, Nguyễn Hiếu gặp nhau khi mới đến
itvr.jpg
Hòang Tĩnh với cô Phan Ngọc Lan Giáo sư hướng dẫn đế nhất B2 NK70-71

n1ga.jpg
tw0m.jpg
4zs2.jpg
X, anh Nguyễn hửu Đồng, anh Hòang Tĩnh
o7bb.jpg
Kim Oanh và cô Hồng, giáo sư hướng dẫn đệ tam C nk 68-69
q0fh.jpg
Hiếu, Oanh, Lê Hai, Ngô trọng Hùng, Nguyễn ngọc Phụ
5d9c.jpg
NH6471 với các thầy cô : Hàng sau : Nguyễn Hiếu-Bùi Phước Vĩnh-Trần Văn Hảo-Phạm Đình Quát
Hàng trước : Ngô Hướng-Cô Hồ thị Tương-Kim Oanh-cô Phan Ngọc Lan-cô Võ Thị Hồng-Lê Hai-Nguyễn Hửu Đồng-Ngô Trọng Hùng (Ngô Hai)-Nguyễn Ngọc Phụ-thầy Phan Khắc Đồ-Nguyễn Ngọc Thái-Nguyễn Cử-Nguyễn Quý
2saa.jpg
Oanh, Mừng, Hiếu, Hướng, Nguyễn Quý, Lê Hai
2jp5.jpg
Các bạn NH6471 khối C chụp chung với cô Hồng : Ngọc Phụ, Trọng Hùng, Kim Oanh, cô Hồng, Lê Hai, Đình Quát
1an7.jpg
Hảo, Hướng, Oanh, Hiếu, Vĩnh, Quát, Lê Hai, Ngô Hai, Phụ, Thái, Tĩnh, Đồng, Cử, anh Kỳ
w50l.jpg
Hướng, Quý, Vĩnh, Quát, Lê Hai
vcyl.jpg
cô Lan, Hướng, Thế, Oanh, cô Hồng
2xiv.jpg
thầy Thanh đến với NH6471 : cô Lan, thầy Thanh,Hướng, Thế, Oanh, cô Hồng
01mb.jpg
Phụ, Tĩnh, Đồng, thầy Thanh, Hiếu, Hướng
c4b2.jpg
Vĩnh, Quát, Lê Hai, Hướng, thầy Thanh, cô Lan, Cử

jsj5.jpg
Lê Quý Phi NH6370 với NH6471
ptbj.jpg
Hướng, Hảo, Quý, Vĩnh, Quát

cp59.jpg
Võ văn Phúc NH Đồng nai với NH6471
3he4.jpg
anh Nguyễn Lớn NH Quảng trị với NH6471
gtsz.jpg
anh Bành Phi Lân NH BRVT đến với NH6471
rtlw.jpg
anh Phạm Hòa Việt (cầm ly bia)
đến với NH6471
2xrf.jpg
Phụ, Hảo, Tĩnh, Đồng
h6pj.jpg
Hiếu, Quát, Hướng, Quý, Vĩnh
oufo.jpg
Hửu Thái, Kế Thế, Nguyễn Hiếu, Đình Quát, Ngô Hướng, Nguyễn Quý, Phước Vĩnh
jsq5.jpg
cô Hồng, Ngô Hai, Kế Thế, Ngọc Phụ, Hòang Tĩnh, Hửu Đồng
ypee.jpg
Lê Hai, cô Lan, Nguyễn Cử, Kim Oanh, cô Hồng, Ngô Hai, Ngọc Phụ
iirv.jpg
Hiếu, Hướng, Quý, Vĩnh, Quát, phía sau là Giáo
bb5t.jpg
Giáo dẫn con gái là SV Đại học Ngân hàng đến chào thầy Hướng
05ko.jpg
Cử, Thái, Quý, Vĩnh
h1c1.jpg
Hướng, Oanh, Hiếu, cô Hồng

k97d.jpg
2 bác cháu dòng họ Ngô cùng là NH6471 gặp nhau (Ngô Hướng với bác Ngô Hai)
q0gm.jpg
Nguyễn Hiếu gặp Đinh thị Hiệp (Hàm tân)
1frz.jpg
Tại nhà Sử Sơn : vợ Quý, Quý, Hướng, Cử
9iu0.jpg
Vĩnh, Hiếu, Sử Sơn
2evy.jpg
Hiếu, Vĩnh, Sơn, vợ Sơn, vợ Quý, Quý, Cử, Hướng
insd.jpg
Sơn, vợ Sơn, vợ Quý, Quý, Cử, Hảo
afv9.jpg
Tại nhà con trai Quý : Quý và Hùng 2 thông gia
2u60.jpg
Hướng, Hảo, Hùng, Vĩnh, Quý

TRẦN VĂN HẢO