Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2021

Đảng Đại Việt, CIA và cuộc chiến bí mật ở miền Bắc Việt Nam - Khám Phá Lịch Sử

Cuộc chiến tranh diễn ra không thuận lợi đối với nước Pháp. Vào đầu năm 1952, những người cộng sản Việt Nam (Việt Minh) đã làm chủ phần lớn vùng núi phía Bắc, giáp biên giới với Trung Quốc, giúp họ có khả năng dễ dàng tấn công xuống vựa lúa ở Bắc Việt Nam, khu vực châu thổ sông Hồng phì nhiêu. Tâm lý vỡ mộng đang tăng lên trong nước làm Pháp càng khó khăn hơn. Hy vọng giành một chiến thắng nhanh chóng, các lực lượng của Pháp đã hành quân, tiến vào các vị trí xung quanh Hòa Bình, một tỉnh lỵ nằm ở phía Tây Hà Nội, nhằm cắt đứt con đường tiếp tế then chốt của Việt Minh, đi từ phía Đông về vùng đồng bằng Việt Minh đã đáp trả lại bằng việc tập trung ba sư đoàn bộ binh, với tổng cộng khoảng 25 nghìn quân. Bị bất ngờ và áp đảo, quân Pháp bắt đầu từ từ rút lui về các khu vực an toàn ở châu thổ sông Hồng, cho nổ tung, phá hủy bất cứ thứ gì có thể sử dụng được như là một cử chỉ tạm biệt. Vào tuần thứ hai của tháng ba, Hòa Bình đã bị bỏ rơi.
Trong khi đó, bên kia trái đất ở Washington, chính quyền Tổng thống Truman lo lắng trước việc vị thế của Pháp ở Đông Dương đang bị xói mòn. Việc mất bất kỳ một quốc gia nào ở Đông Nam Á vào tay cộng sản cũng sẽ gây ra những hậu quả tâm lý, chính trị và kinh tế to lớn đối với lợi ích của Mỹ. Mặc dù tình hình nghiêm trọng, song Harry Truman chẳng có mấy lựa chọn. Nước Mỹ đã cung cấp phần lớn trang thiết bị quân sự Pháp dùng ở Đông Dương và trong khi các lực lượng của Mỹ đang mắc kẹt ở Triều Tiên, việc dính líu nhiều hơn nữa vào một cuộc xung đột thứ hai ở Châu Á là điều không thể về mặt chính trị. Nhưng có một lựa chọn khác, đó là các hoạt động bí mật. Đối với Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA), đã được thành lập năm năm nay, thì đây là một cơ hội hấp dẫn để đặt chân vào Đông Dương. Kết hợp giữa thái độ vừa lạc quan và vừa ngây thơ nổi lên trong những ngày đầu, CIA đã chọn một trong những sĩ quan trẻ của mình, Donald Gregg, và trao cho anh ta một nhiệm vụ táo bạo: Huấn luyện một nhóm người Việt về chiến thuật hoạt động theo quy mô đơn vị nhỏ và chuẩn bị cùng họ nhảy dù xuống khu vực nông thôn ở Bắc Việt Nam. Vừa mới được đào tạo hoạt động bán quân sự và chưa từng phục vụ ở nước ngoài, Gregg đồng ý ngay. Bay sang Thái Lan, anh ta chọn mười người Việt Nam và đưa họ đến một cơ sở của CIA ở căn cứ hải quân của Mỹ ở Yokosuka, Nhật Bản để tiến hành huấn luyện cơ bản trong một tháng. Có hai vấn đề nổi lên ngay lập tức. Thứ nhất, Gregg thấy hầu như không ai nghĩ gì về việc anh ta cùng những người được huấn luyện cần phải làm gì, một khi họ quay trở lại vùng nông thôn Việt Nam. Thứ hai, một vấn đề đáng lo ngại hơn, Gregg thấy hiểu biết về Việt Nam của anh ta cũng không hơn những người được anh ta huấn luyện. Tất cả mười người này được tuyển mộ ở Thái Lan thông qua một đặc vụ và người này nói rằng họ nằm trong số năm mươi ngàn người Việt đã chạy sang Thái Lan ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Nhưng Gregg phát hiện ra rằng thực ra họ là những người di cư khỏi Việt Nam từ cách đó hơn 150 năm. Ngay cả CIA, một cơ quan luôn có thái độ lạc quan, cũng không thể nào lại thực hiện một hoạt động chỉ dựa trên một kế hoạch sơ sài như vậy. Gregg nhớ lại: “Sau đó, những người Việt này đã được chuyển về Thái Lan vào tháng Tư, tôi cảm thấy mình như thọ thêm được mấy năm”.
Bắt đầu sự nghiệp tại CIA vào năm 1951 khi mới 24 tuổi, Donald Gregg sau đó đã nắm giữ nhiều chức vụ khác nhau như cố vấn Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, cố vấn cho Phó Tổng thống George H. W. Bush, và Đại sứ Hoa Kỳ tại Hàn Quốc Hai năm sau, CIA lại lần nữa chơi đùa với ý tưởng tiến hành các hoạt động bán quân sự bí mật ở Đông Dương. Lúc đó, quân đội của Việt Minh, bao gồm lực lượng chính quy và dân quân địa phương, đã lên tới hơn 350.000 người. Tuy việc rút khỏi Đông Dương chỉ là vấn đề thời gian, nhưng Pháp vẫn chỉ chấp nhận trang thiết bị và tiền bạc do Mỹ cung cấp, từ chối cố vấn của quân đội hoặc của CIA. Tổng thống D. D. Eisenhower không ưa phương hướng hành động mà Pháp đang thực thi ở Việt Nam. Trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) ngày 21 tháng 1 năm 1954, ông ta nhấn mạnh không để cho Đông Dương rơi vào tay cộng sản và yêu cầu các cố vấn đề xuất các biện pháp để củng cố vị thế của Pháp. Ngoài giúp đỡ về vật chất, ông đặc biệt quan tâm đến khả năng tiến hành chương trình chiến tranh du kích, một chương trình có thể được tiếp tục sau khi Pháp có khả năng sẽ rút đi.
Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower (1890-1969) Đáp lại Tổng thống, Giám đốc CIA, Allen Dulles, đã phát biểu tại Hội đồng An ninh Quốc gia rằng ông ta có các chuyên gia bán quân sự sẵn sàng đến Đông Nam Á, nhưng người Pháp đã ngoan cố từ chối không cho phép. Dulles nhận xét, chiến tranh du kích là một quá trình lâu dài, đòi hỏi có sự chuẩn bị đầy đủ. Trong khi không còn đủ thời gian, ông gợi ý biện pháp đánh đổi cứng rắn với Pháp: Mỹ tiếp tục cung cấp trang thiết bị quân sự, đổi lại Pháp phải đồng ý cho Mỹ đưa nhân viên bán quân sự của CIA vào. Tổng thống Eisenhower đã đồng ý.
Tám ngày sau, các cố vấn hàng đầu của ông đã được triệu tập để tiếp tục họp. Tiếp tục chủ đề mà Eisenhower đã bỏ dở, Giám đốc CIA Dulles đã giới thiệu Edward Lansdale với những người tham gia cuộc họp và gợi ý cử ông ta là người đầu tiên đến Việt Nam. Vốn là một đại tá Không quân Mỹ được biệt phái sang làm việc lâu dài ở CIA, Lansdale nổi tiếng là một trong những chuyên gia hàng đầu về các hoạt động du kích và bán quân sự. Ông đã để lại dấu ấn của mình ở Đông Nam Á khi làm việc với tư cách cố vấn cao cấp cho Tổng thống Philippines, Ramon Magsaysay. Ông đã giúp đánh bại phong trào phiến quân cộng sản Hukbalahap và điều đó làm cho Dulles và người anh của ông ta, Bộ trưởng Ngoại giao John Foster, rất có ấn tượng. Hội đồng An ninh Quốc gia đã yêu cầu ông chuẩn bị va li lên đường sang Việt Nam. Trước khi Lansdale lên đường, cuộc chiến tranh Đông Dương đã bước vào giai đoạn cuối. Lực lượng của Pháp ở thung lũng Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc Việt Nam, vốn đã bị bao vây từ cuối năm trước, đang nhanh chóng trở thành chỗ dựa cuối cùng của Pháp. Trong khi lực lượng Việt Minh đang thít chặt thòng lọng xung quanh Điện Biên Phủ, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ đã nâng cấp nhóm cố vấn một người của Lansdale lên thành một phái đoàn thuộc CIA được biết tới với cái tên “Phái đoàn Quân sự Sài Gòn"(SMM). Phái đoàn này không làm việc với người Pháp mà sẽ làm việc với chính phủ chống cộng và mang danh nghĩa độc lập của Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại, một nhân vật bù nhìn do Paris dựng lên, đứng đầu. Trước khi các thành viên của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn có cơ hội đặt chân lên đất Việt Nam, Điện Biên Phủ đã rơi vào tay Việt Minh vào đầu tháng Năm. Tổng thống Eisenhower đặc biệt không thích cách Pháp cai trị các thuộc địa Đông Dương, nhưng ông lại càng không thích ý tưởng về một chế độ Việt Minh. Trong khi các binh lính Pháp bị dẫn giải như những tù binh ra khỏi Điện Biên Phủ, ông ta đã cân nhắc đến khả năng tiến hành một chiến dịch hoạt động du kích lớn ở Bắc Việt Nam được hỗ trợ thông qua Thái Lan. Tuy nhiên, tình thế mau chóng cho thấy rõ ràng là không có đủ thời gian cho những kế hoạch vĩ đại. Ở Geneva, một hội nghị quốc tế đang thương lượng vấn đề Pháp rút khỏi Đông Dương. Lo lắng về khả năng Pháp sẽ bán đứng mọi thứ, Lansdale lập tức lao đến Sài Gòn, trong khi hội nghị Geneva vẫn đang họp. Đến đó vào ngày 1 tháng Sáu, về danh nghĩa ông ta được cử làm một trợ lý tùy viên không quân tại Sứ quán Mỹ.
Edward Lansdale Không có đủ thời gian để tập hợp thêm các thành viên của Phái đoàn quân sự Sài Gòn, vì vậy Lansdale trong tháng đầu tiên đã cố tạo dựng các mối quan hệ với lực lượng vũ trang của Bảo Đại và làm việc với Đại đội Vũ trang Chiến tranh Tâm lý (Armed Psychological Warfare Company) ở Hà Nội. Nhưng ông ta đã không có được thành công trọn vẹn: dưới sự chỉ đạo của Lansdale, trong phi vụ đầu tiên của đại đội này, hai thành viên trong nhóm đã chạy sang hàng ngũ cộng sản. Ngày 1 tháng Bảy, Lansdale có thêm một cấp phó, Thiếu tá Lucien “Lou” Conein. Là một chuyên gia tự thân trong lĩnh vực bán quân sự, Conein đã từng thành công với những phi vụ như vậy. Được những người cùng hoạt động gắn danh là “Black Luigi – Luigi Đen”, Conein đã từng thâm nhập vào Bắc Việt Nam cách đây chín năm, khi còn làm việc trong Cơ quan Tình báo Chiến lược (Office of Strategic Services – OSS), tổ chức tiền thân của CIA trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Không giống các sĩ quan OSS khác, những người đã cùng làm việc với Việt Minh để chống lại người Nhật, Conein đã liên hệ với những tổ chức bí mật của người Việt Nam do người Pháp lãnh đạo. Một số người này giờ đây đã trở thành các sĩ quan quân sự cao cấp của Việt Nam và đây là lợi thế của Conein.
Trong ba tuần sau đó, Phái đoàn Quân sự Sài Gòn chỉ gồm có hai thành viên tiếp tục xây dựng các mối liên hệ với người Việt Nam. Ngày 21 tháng Bảy, hội nghị Geneva kết thúc. Theo giải pháp này, sẽ có một khoảng thời gian đình chiến 300 ngày, trong thời gian đó dân thường được tự do đi lại. Sau đó, đất nước sẽ tạm thời bị chia làm hai miền: toàn bộ lãnh thổ phía bắc vĩ tuyến 17 sẽ được trao cho Việt Minh, trong khi đó toàn bộ vùng đất phía nam vĩ tuyến đó, sẽ do chế độ Bảo Đại thân phương Tây do người Pháp lập ra trước đó cai quản. Thủ đô của Bắc Việt Nam do Việt Minh kiểm soát là Hà Nội, trong khi Nam Việt Nam lại do Bảo Đại điều hành từ Sài Gòn. Về mặt lý thuyết, sau hai năm sẽ có một cuộc tổng tuyển cử dự kiến tổ chức vào năm 1956 để thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, từ sau ngày 11 tháng Tám, số nhân viên quân sự nước ngoài sẽ đóng băng. Chính quyền của Tổng thống Eisenhower coi giải pháp Geneva là một thảm họa và ngay lập tức thay đổi nhiệm vụ của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn. Với việc Bắc Việt Nam sẽ sớm nằm dưới quyền kiểm soát hoàn toàn của cộng sản, nhiệm vụ chính của Lansdale bây giờ là tổ chức các hoạt động kháng chiến bên kia chiến tuyến. Để làm việc đó, CIA có thể sử dụng một tiền lệ. Ở Tây Âu, CIA đã đặt nền móng cho việc xây dựng một mạng lưới du kích bí mật trước khi Liên Xô có thể xâm lược. Ở Châu Á cũng vậy, CIA cũng đã nuôi dưỡng một đơn vị cảnh sát tinh nhuệ Thái Lan để tiến hành cuộc kháng chiến chống lại nguy cơ Trung Quốc tiến xuống phía nam. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, các mạng lưới ở sau chiến tuyến chưa bao giờ được thử thách. Trong việc thành lập một mạng lưới của người Việt, Phái đoàn Quân sự Sài Gòn đã tìm kiếm sự giúp đỡ của Đại Việt, một phong trào bí mật có tư tưởng dân tộc cực đoan được thành lập vào năm 1939. Đại Việt, có nghĩa là nước Việt Nam vĩ đại, được sinh ra từ phong trào chống lại ách cai trị thực dân Pháp. Từ đó, đã hình thành một liên minh ngắn ngủi với những người có tư tưởng dân tộc trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, gồm cả Việt Minh. Sau chiến tranh, ban lãnh đạo Đại Việt chạy sang Trung Quốc. Quay trở lại Việt Nam vào năm 1947, phong trào này hạ giọng chống Pháp, cố gắng vứt bỏ hình ảnh tinh hoa của mình nhằm lôi kéo quần chúng. Đại Việt cũng bắt đầu tập trung đến mối đe dọa của Việt Minh. Năm 1951, Đại Việt bắt đầu có những hành động vũ trang chống lại những người cộng sản, thành lập lực lượng dân vệ bán vũ trang ở Miền Bắc liên minh lỏng lẻo với Pháp. Tháng 12 năm 1953, lực lượng dân vệ này đã lên tới khoảng 17.000 người. Hiệp định Geneva báo hiệu cơ sở quyền lực của Đại Việt ở Miền Bắc đã chấm dứt, vì vậy Lansdale cho rằng một kế hoạch nằm vùng sẽ là điều hấp dẫn với Đại Việt. Thông qua những đầu mối tiếp xúc do tình báo Pháp cung cấp, tháng Bảy năm 1954, Lansdale đã ra Hà Nội để thăm dò Đại Việt. Tại Hà Nội, ông đã gặp Phan Huy Quát, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, một trong hai quan chức cấp cao của Đại Việt giữ cương vị bộ trưởng trong chính phủ Bảo Đại. Sau khi nghe vị đại tá Mỹ trình bày, ông Quát đã gợi ý ông ta nên gặp một nhân vật Đại Việt nữa, đồng thời là người có họ hàng thông qua quan hệ hôn nhân, Bác sĩ Đặng Văn Sung.
Ông Sung, Tổng bí thư không chính thức của Đại Việt, sinh ra trong một gia đình địa chủ giàu có ở Nghệ An. Thông minh, lịch lãm và nghiêm nghị, ông có bằng bác sĩ y khoa, nhưng thay vì làm bác sĩ, ông gia nhập Đại Việt vào năm 1940 và nhanh chóng trở thành một trong những lãnh đạo có ảnh hưởng nhất của Đại Việt. Sau các cuộc tấn công của Việt Minh chống lại phong trào này sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, ông có một thời gian ngắn sống lưu vong ở Trung Quốc và trở về Việt Nam vào năm 1947 để đóng một vai trò quan trọng trong các tờ báo và tổ chức thanh niên của Đại Việt. Là một trong những người đầu tiên trong Đảng Đại Việt đề xướng hợp tác với Hoàng đế Bảo Đại, Sung là người công khai lớn tiếng phản đối Hiệp định Geneva, đặc biệt là điều khoản chia cắt Việt Nam. Bác sĩ Đặng Văn Sung (người đầu tiên ở hàng trên, từ phải sang) cùng một số thành viên của Đảng Đại Việt tại Hà Nội Bác sĩ Đặng Văn Sung (người đầu tiên ở hàng trên, từ phải sang) cùng một số thành viên của Đảng Đại Việt tại Hà Nội Đi cùng với Quát, Lansdale tới trụ sở của Đại Việt tại Hà Nội. “Lansdale đã đề xuất kế hoạch xây dựng một tổ chức nằm vùng ở miền Bắc và chúng tôi đã nói chuyện với nhau trong hai ngày”, Quát nhớ lại. “Ông ta đã chỉ ra cho chúng tôi thấy Đại Việt vẫn chỉ là đảng của một nhóm hành động và đảng của trí thức chứ không phải một đảng quần chúng. Ông ta đưa ra một thách thức: nếu chúng tôi chứng minh được rằng chúng tôi có thể làm việc với quần chúng, ông ta sẽ ủng hộ một mạng lưới nằm vùng ở Miền Bắc. Tôi đã nắm lấy cơ hội đó để chứng minh khả năng của mình”. Lansdale trở lại Sài Gòn, gặp thêm mười sĩ quan CIA, tất cả đều là các chuyên gia hoạt động tình báo bí mật bán quân sự. Những người này đã nhanh chóng được phái từ Nhật Bản, Triều Tiên và Okinawa tới để trợ lực cho Phái đoàn Quân sự Sài Gòn trước thời hạn 11 tháng 8 như quy định trong Hiệp định Geneva. Điều này làm cho Việt Nam trở thành nước duy nhất có hai trạm CIA hoạt động cùng một lúc: Một cơ quan với người đứng đầu chỉ tập trung vào các hoạt động gián điệp thông thường và Phái đoàn Quân sự Sài Gòn do Lansdale đứng đầu, phụ trách các hoạt động bán quân sự. Trong khi trưởng trạm và gián điệp của CIA hoạt động dưới vỏ ngụy trang là cán bộ ngoại giao trong sứ quán, Lansdale và nhân viên của ông lại có chỗ làm việc trong Nhóm Cố vấn và Viện trợ Quân sự ở Đông Dương (MAAG) có trụ sở ở Sài Gòn và trực thuộc Lầu Năm Góc từ trước vẫn cung cấp viện trợ quân sự cho Pháp. Với Phái đoàn Quân sự Sài Gòn đã đầy đủ lực lượng, Lansdale giao cho Conein làm việc với Sung về một chương trình chi tiết liên quan đến hoạt động nằm vùng của Đại Việt. Vừa hết hạn làm việc ở Tây Đức để đưa một số điệp viên thâm nhập qua Bức màn sắt, Conein hiểu biết đầy đủ về việc xây dựng mạng lưới gián điệp. Trên danh nghĩa, phân đội của ông được cử đến MAAG giám sát gần một triệu người tỵ nan dự kiến sẽ vào Nam trong giai đoạn 300 ngày ân hạn theo quy định của Hiệp định Geneva. Do đó, ông dễ có lý do để đi lại giữa Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng. Nhiệm vụ này không hề dễ dàng. Đặc vụ của Việt Minh đã bắt đầu bí mật kiểm soát Hà Nội. Chạy đua với thời gian, Sung đã chọn Cao Xuân Tuyên, một sĩ quan cao cấp của Đại Việt và là một đại úy trong quân đội của Bảo Đại để bắt đầu tuyển mộ người. Người đầu tiên mà Tuyên tuyển mộ là Trần Minh Châu. Là một tín đồ đạo Thiên chúa, quê ở thành phố Nam Định, ông đã tham gia Việt Minh vào những ngày cuối cùng của Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Làm đến chủ tịch xã, ông ta đã lãnh đạo dân quân du kích ở địa phương chống lại Pháp cho đến khi bị bắt vào năm 1949. Ở trong tù, ông ta đã ly khai với cộng sản và cùng với nhiều người Nam Định theo đạo Thiên Chúa nghiêng về phía Đại Việt và cuối cùng đã gia nhập đảng này. Đối tượng tuyển mộ tiếp theo của ông ta là Nguyễn Kim Xuyến. Cũng là một tín đồ đạo Thiên Chúa quê ở Nam Định, Xuyến là người rất bảo thủ và là một nhà báo viết chuyên mục trong một tờ báo của Đại Việt. Có hai người để bắt đầu xây dựng một nhóm nằm vùng là một khởi đầu tốt. Tuyên chỉ có đến cuối tháng Tám để tuyển mộ thêm mười tám người. Ông đã không làm được, đến cuối tháng đó, ông ta chỉ tuyển được mười bốn người trong Đảng Đại Việt. Được đặt mật danh là “nhóm Binh”, tổng số mười sáu người của Đại Việt đã được tập hợp cho Conein. Theo kế hoạch của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn, giúp đỡ của CIA cho nhóm Binh chỉ mang tính chất tạm thời, với dự định quyền kiểm soát nhóm này về sau sẽ giao lại cho chính phủ Bảo Đại ở Sài Gòn. Những điều kiện này đã được ban lãnh đạo Đại Việt chấp nhận. Nhóm mười sáu người này đã được ô tô đưa xuống Hải Phòng vào đầu tháng Chín, sau đó bí mật lên một tàu chiến của Mỹ và được đưa tới Okinawa. Trải qua một tháng thử thách về tâm lý và thể chất, tháng Mười năm đó, nhóm này tập hợp lại và được đưa tới một trung tâm huấn luyện trị giá 28 triệu đô la của CIA ở Saipan. Dù đã bước vào năm hoạt động thứ tư, song căn cứ Saipan lại được đặt tên nghe có vẻ vô hại là Đơn vị Huấn luyện Kỹ thuật Hải quân và đây là trung tâm huấn luyện đầu tiên của CIA ở Viễn Đông. Trước đây, căn cứ này đã từng huấn luyện cho Triều Tiên, Đài Loan và Thái Lan, với nhiều lớp học tách biệt dành cho học viên nước ngoài. Một trong các sĩ quan so sánh Saipan với căn cứ huấn luyện chính của CIA ở Williamsburg, Virginia: “Các cơ sở ở Saipan thực sự đầy đủ, giống như Fort Peary thu nhỏ”. Một căn cứ của Mỹ trên đảo Saipan (Quần đảo Mariana, Thái Bình Dương) Một căn cứ của Mỹ trên đảo Saipan (Quần đảo Mariana, Thái Bình Dương) Tại Saipan, nhóm Đại Việt được tuyển mộ này giảm xuống còn 12 người. Họ tiếp tục được huấn luyện và đặt mật danh tiếng Anh và tiếng Pháp. Được bốn cố vấn Mỹ hướng dẫn, họ được giảng về những vấn đề cơ bản trong hoạt động bán vũ trang và nghiệp vụ điệp viên. Không phải là thu xếp hoàn hảo, chương trình giảng dạy được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Pháp và sau đó được một trong các học viên dịch lại sang tiếng Việt. Sau khi chương trình kèm cặp cơ bản này kết thúc, những người được tuyển mộ sẽ chia thành ba nhóm nhỏ. Nhóm thứ nhất, trong đó có Trần Minh Châu, giờ có biệt hiệu là Leslie, và ba người khác, được đào tạo về vũ khí, chất nổ và hoạt động phá hoại. Nhóm thứ hai, tổng cộng có năm người, được huấn luyện khá kỹ về hoạt động gián điệp. Nhóm thứ ba gồm ba người được huấn luyện chuyên về thông tin liên lạc. Khóa huấn luyện ở Saipan dự kiến kéo dài sáu tháng, nhưng CIA đã quyết định nếu nhóm của Binh ở lại theo hết chương trình thì sẽ không đủ thời gian để thâm nhập, trước khi Việt Minh nắm quyền kiểm soát toàn bộ Bắc Việt Nam. Vì vậy, chỉ sau bốn tháng, ba nhóm đã tập hợp lại và được một chuyên gia phát hiện nói dối của CIA kiểm tra lần cuối. Đóng giả là một sĩ quan cảnh sát của Việt Minh, ông ta đã giả vờ tiến hành hỏi cung các điệp viên. Một điệp viên bị loại khi người đó bị lộ tẩy là chỉ điểm cho Pháp. Sau này, các sĩ quan CIA được thông báo là người đó khi trở về Sài Gòn đã bị chặt đầu. Có một điều mà nhóm Binh không biết, đó là họ không phải là những người Việt duy nhất ở Saipan. Hồi tháng Chín, một mạng lưới nằm vùng thứ hai cũng được hình thành ở Sài Gòn, do Phái đoàn Quân sự Sài Gòn bảo trợ. Được gọi là nhóm “Hao”, những điệp viên này được tuyển mộ từ Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ). Được thành lập năm 1927 như một bộ phận của Quốc Dân Đảng (Koumintang) ở Trung Quốc, VNQDĐ ban đầu khá nổi bật trong những người có tư tưởng dân tộc sau khi lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống thực dân vào năm 1930. Bị Pháp đàn áp dã man, những người lãnh đạo cuộc nổi dậy buộc phải chạy sang Trung Quốc, sống lưu vong cho đến sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Sau khi trở về Việt Nam, lực lượng của họ bị Việt Minh tiêu diệt và chỉ còn là cái bóng của chính mình trong những năm đầu 1950. Tuy nhiên, vào cuối năm 1954, đảng này vẫn có những đảng viên tình nguyện tham gia các khóa huấn luyện gián điệp. Được Lansdale giúp đỡ, lãnh đạo đảng đã tuyển mộ được 21 người để đưa sang huấn luyện tại Saipan. Trong khi các điệp viên nằm vùng đang được huấn luyện ở nước ngoài, Phái đoàn Quân sự Sài Gòn lại bận rộn với các dự án khác. Vào lúc chế độ cộng sản đang có những chuẩn bị cuối cùng để tiếp quản chính thức Hà Nội vào ngày 11 tháng Mười, Lansdale lại dành nhiều thời gian để tiến hành một chiến dịch tâm lý nhằm khuấy động thái độ bất mãn với những người cai trị mới, ngay từ trước khi họ ổn định công việc. Trong khi có rất nhiều người tỵ nạn rời bỏ quê hương của họ ở Miền Bắc để chạy vào Miền Nam trong thời gian đình chiến quy định trong Hiệp định Geneva, Lansdale đã thực hiện nhiều biện pháp để bảo đảm dòng người tỵ nạn này càng nhiều. Sử dụng biện pháp tuyên truyền để thuyết phục người dân rằng cuộc sống ở Miền Nam tốt đẹp hơn, Lansdale cũng reo rắc tin đồn rằng người Trung Quốc, vốn từ bao đời nay đã bị người Việt không ưa, dù cho họ ở cùng trong một liên minh cộng sản, hiện có kế hoạch sẽ đóng một vai trò tích cực trong việc quản lý đất nước Việt Nam. Tin đồn cũng nói rằng nhiều người Việt sẽ bị đưa sang Trung Quốc để làm công nhân đường sắt. Lansdale cũng lợi dụng nỗi lo sợ của những tín đồ đạo Thiên Chúa đối với những người cộng sản vô thần, in truyền đơn trong đó nói rằng “Đức Mẹ Đồng trinh đang đi vào Nam” và hứa hẹn sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn cho các tín đồ đạo Thiên Chúa ở Miền Nam. Những câu chuyện thêu dệt về tội ác của cộng sản cũng giúp làm tăng thái độ bất bình. Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-226) Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-226) Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-224f – Nguồn: www.archives.gov) Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-224f – Nguồn: www.archives.gov) Cú đánh tuyên truyền táo bạo và thành công nhất của Lansdale được tiến hành khi nhân viên của ông phân phát các truyền đơn với chữ ký của các quan chức Việt Minh chỉ thị cho người dân phải hành xử như thế nào khi cộng sản tiếp quản Hà Nội vào tháng Mười, gián tiếp nói đến việc tái phân phối tài sản cá nhân và cải cách hệ thống tiền tệ. Theo Lansdale, chiến dịch này đã thành công lớn. Ông ta viết: “Một ngày sau khi những truyền đơn này được phân phát, số người đăng ký xin di cư đã tăng gấp ba lần… Hai ngày sau, giá trị đồng tiền của Việt Minh giảm một nửa so với trước khi có các truyền đơn.Việt Minh đã sử dụng đài phát thanh để tố cáo những truyền đơn này. Những tờ truyền đơn, về hình thức, trông giống thật đến nỗi phần lớn cán bộ cấp dưới lại tin rằng những lời tố cáo trên đài phát thanh là một âm mưu của người Pháp”. Thậm chí người Pháp cũng bị đánh lừa. Họ đã bắt giam một thành viên trong các nhóm người Việt thuộc quyền của Lansdale trong khi anh ta đang phân phát truyền đơn vào buổi tối và buộc tội anh ta là điệp viên của Việt Minh. Tàu sân bay HMS Warrior đưa 1455 người di cư từ Hải Phòng tới Sài Gòn trong chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do, ngày 4 tháng 9 năm 1954 (Nguồn: iwm.org.uk) Tàu sân bay HMS Warrior đưa 1455 người di cư từ Hải Phòng tới Sài Gòn trong chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do, ngày 4 tháng 9 năm 1954 (Nguồn: iwm.org.uk) Trong tuần đầu tháng Mười, phân đội của Conein ở phía Bắc chuẩn bị rời Hà Nội ngay trước khi lực lượng Việt Minh tiến vào. Những ngày cuối cùng, họ tập trung tiến hành các hoạt động phá hoại âm thầm trong thành phố. Điệp viên đã lẻn vào một xưởng xe buýt để gây nhiễm bẩn các thùng chứa xăng dầu và bí mật chuyển các gói thuốc nổ giống như những viên than do một nhóm kỹ thuật viên của CIA chế tạo vào các điểm cung cấp nhiên liệu tại nhà máy xe lửa của thành phố. Cả hai phi vụ trên đều có những lúc khá hài hước. Conein hồi tưởng: “Các chất gây nhiễm bẩn xăng dầu được đóng trong hộp tròn chuyển từ Nhật Bản về. Khi chúng tôi mở ra, mùi của nó suýt làm chúng tôi ngất xỉu trong khi chúng tôi đang ở trong trạm xe buýt, nhưng chúng tôi đã trấn tĩnh lại để đổ các chất này vào trong các thùng xăng dầu và sau đó rời đi. Các viên than chứa chất nổ cũng được chuyển từ Nhật Bản tới. Ý định là đặt những viên than đó tại các nơi bốc dỡ hàng và chờ tiếng nổ lớn. Chúng tôi sợ sẽ có ai đó đi ngang qua, ăn cắp những viên than mang về nhà để đun nấu, rồi bị nổ tung. Sau này, chúng tôi nghe nói những viên than chứa chất nổ đã làm nổ tung một số đầu máy xe lửa”. Thực hiện xong các hoạt động phá hoại, Conein và người của ông ta chuyển xuống Hải Phòng để tìm địa điểm bí mật cất giấu vũ khí và trang thiết bị dành cho nhóm Binh (cho đến tận tháng Năm năm 1955, thành phố này mới được chuyển giao cho Việt Minh). Tháng Giêng năm 1955, đồ tiếp tế được máy bay của hãng Vận tải Hàng không Dân dụng (Civil Air Transport), thuộc sở hữu của CIA, chuyển từ Sài Gòn ra và các nhóm này bắt đầu hoạt động. Súng đạn được cất giấu dưới nền các ngôi nhà, những đồ tiếp tế khác được đưa đến các nghĩa trang và chôn trong các đám tang giả dưới sự chỉ đạo của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn. Cho đến cuối tháng, mọi thứ đã được chôn giấu xong. Ngày 8 tháng Hai, điệp viên trong nhóm Binh đã vượt qua các buổi kiểm tra phát hiện nói dối và được đưa trở lại Sài Gòn. Tại Sài Gòn, họ trải qua một tháng học tập chính trị, trước khi thâm nhập Miền Bắc. Theo kế hoạch, 12 điệp viên sẽ được chia về ba địa điểm. Leslie, được phong cấp trung úy, sẽ chỉ huy chung. Anh ta và năm điệp viên khác sẽ hoạt động ở Hà Nội, ba người nữa hoạt động ở Hải Phòng và ba người cuối cùng sẽ hoạt động ở Nam Định. Vào đầu tháng Ba, cả 12 điệp viên được tàu biển đưa ra Hải Phòng. Tại đó, Conein thông báo ngắn gọn về tình hình và trao cho họ các giấy tờ tùy thân giả. Công việc và chỗ ở mới cũng đã được Phái đoàn Quân sự Sài Gòn thu xếp. Phần lớn họ sẽ giả làm ngư dân. Đến cuối tháng đó, họ đã thâm nhập thành công vào đời sống xã hội ở Miền Bắc. Như vậy, mạng lưới của nhóm Binh đã hình thành và đi vào hoạt động ổn định. Việc thâm nhập của nhóm Hao, thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng, là một hoạt động với tham vọng lớn hơn nhiều. Khoảng tám tấn rưỡi hàng tiếp viện, gồm 14 điện đài, 300 súng các-bin, 50 súng ngắn và hơn 130 kilogam chất nổ, đã lặng lẽ được đưa vào miền bắc bằng máy bay hoặc tàu thủy trong khoảng thời gian từ tháng Hai đến tháng Ba. Phần lớn đồ tiếp tế này được cất giấu ở các địa điểm dọc sông Hồng. Phần còn lại được cất giấu dưới các nền nhà ở Hải Phòng. Số hàng tiếp viện khác được chuyển giao cho mạng lưới của Quốc Dân Đảng. Bùi Văn Ninh, một đảng viên của đảng này và là sĩ quan thuộc Cơ quan Thông tin của Chính phủ Bảo Đại là một trong số những người được huy động để cất giấu đồ tiếp tế: “Một giáo sư luật, người đã từng giảng dạy ở Đại học Hà Nội, một người mà tôi đã quen biết trong một thời gian, đã nhờ tôi giấu hai điện đài do người Mỹ cung cấp. Các điện đài này được đóng trong những thùng lớn. Tôi đã đào một hố sâu tới hai mét trong nhà tôi ở đường Sơn Lâm, Hải Phòng và giấu một chiếc ở đó. Tôi mang chiếc thứ hai đến nhà một người thân, cách đó hai cây số và chôn trong một cái hố cũng sâu hai mét”. Trong tháng Tư, các thành viên của nhóm Hao kết thúc khóa học ở Saipan và được đưa đến căn cứ không quân Clark ở Philippines để nghe thông báo tình hình lần cuối. Sau đó, họ lên một tàu chiến của Hải quân Mỹ và được đưa thẳng về Hải Phòng. Chia thành từng toán nhỏ, dưới bóng đêm dầy đặc, họ lẻn lên bờ, chia thành bốn nhóm, đi về phía các thành phố Hà Đông, Hải Phòng, Hà Nội và Sơn Tây. Một tháng sau, thực hiện Hiệp định Geneva, lực lượng Việt Minh tiến vào tiếp quản Hải Phòng và các khu vực khác mà Pháp chiếm đóng ở vùng ven biển Bắc Việt Nam. Sau khi đã cài cắm hai mạng lưới gián điệp, đơn vị của Conein rút vào Sài Gòn. Phố Commerce (Thương Mại) ở Hải Phòng năm 1954, nay là phố Lý Thường Kiệt. Hình ảnh do David Putnam, một nhân viên quân sự Mỹ thực hiện trong thời gian tàu USS Tolovana AO-64 của Mỹ neo đậu ngoài khơi Hải Phòng để tiến hành cuộc di dân vào miền Nam Việt Nam trước khi Việt Minh tiếp quản thành phố Phố Commerce (Thương Mại) ở Hải Phòng năm 1954, nay là phố Lý Thường Kiệt. Hình ảnh do David Putnam, một nhân viên quân sự Mỹ thực hiện trong thời gian tàu USS Tolovana AO-64 của Mỹ neo đậu ngoài khơi Hải Phòng để tiến hành cuộc di dân vào miền Nam Việt Nam trước khi Việt Minh tiếp quản thành phố Thủy phi cơ Martin P5M Marlin của Mỹ nạp nhiên liệu trên biển Cát Bà, năm 1954 (Ảnh: David Putnam) Thủy phi cơ Martin P5M Marlin của Mỹ nạp nhiên liệu trên biển Cát Bà, năm 1954 (Ảnh: David Putnam) Giờ đây ở phía sau chiến tuyến của cộng sản, các gián điệp của nhóm Binh bắt đầu thực hành những gì họ đã được huấn luyện. Nhóm hoạt động ở Hải Phòng phải chịu gánh nặng công việc lớn nhất và họ bắt đầu lấy các trang thiết bị đã được chôn giấu trước đó. Trong một thời gian ngắn, họ đã lặng lẽ lấy được toàn bộ điện đài và vũ khí đã cất giấu. Trong những thứ được cung cấp, có cả loại chất nổ được chế tạo giống viên than mà trước đó Phái đoàn Quân sự Sài Gòn đã sử dụng để gây ra vụ nổ ở một xưởng đầu máy xe lửa của Hà Nội. Một gián điệp trong nhóm hoạt động ở Hải Phòng, Bùi Mạnh Hà, bí danh là Bosco, đã mua một chiếc xe tắc xi nhãn hiệu Citroen và bắt đầu vận chuyển trang thiết bị đến các địa điểm của nhóm Binh. Tại Sài Gòn, rắc rối bắt đầu nhen nhóm, xuất phát từ thỏa thuận trước đây giữa Lansdale và ban lãnh đạo Đại Việt. Lansdale đã nói rằng mạng lưới gián điệp nằm vùng sau này sẽ nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền trung ương ở Sài Gòn. Đại Việt đã đồng ý với điều đó. Thỏa thuận trên rất có ý nghĩa vào thời điểm lúc đó, bởi trong chính phủ Bảo Đại, có rất nhiều đại diện của Đại Việt tham gia, gồm cả hai bộ trưởng nội các. Nhưng đến đầu năm 1955, thành phần chính phủ đã có thay đổi lớn. Thủ tướng mới, Ngô Đình Diệm, là một viên quan trong triều đình cũ và theo đạo Thiên Chúa. Ông không cho phép cạnh tranh quyền lực. Ngay sau khi lên nắm quyền, ông liền kiên quyết thanh trừng các nhân vật của Đảng Đại Việt.
Ngô Đình Diệm Đảng Đại Việt coi Diệm là một mối đe dọa, nhưng Lansdale lại ủng hộ ông ta. Giống như đối với Magsaysay ở Philippines, Lansdale đã lựa chọn một nhân vật chính trị đơn nhất có khả năng lãnh đạo để ủng hộ. Ông ta đã nhanh chóng đặt cược niềm tin của mình vào thành công của Diệm. Là một phần trong mối quan hệ thân thiết, Lansdale đã thông báo cho Diệm về sự tồn tại của các gián điệp của Đại Việt ở Bắc Việt Nam. Biết được điều này, Diệm đòi hỏi phải có quyền điều hành mạng lưới gián điệp này. Bác sĩ Đặng Văn Sung, Tổng thư ký của Đại Việt liền phản đối, lập luận rằng các gián điệp được cài lại ở Miền Bắc là công cụ lâu dài để thúc đẩy sự nghiệp của Đại Việt, không phải công cụ của cá nhân của Tổng thống. Sung cho rằng Diệm sẽ không sử dụng đúng mục đích các gián điệp này: “Họ là điệp viên bí mật, hoạt động chống cộng sản. Nhiệm vụ chính của họ là tuyển mộ thêm người. Vì vậy, chúng tôi đã cử một nhóm thứ hai, gồm các đảng viên Đại Việt là người Miền Bắc di cư, sống xung quanh Sài Gòn, để đưa sang Saipan huấn luyện, đào tạo. Nhóm này bao gồm cả những người dân tộc thiểu số và dự kiến họ sẽ được đưa vào Miền Bắc để tăng cường cho mạng lưới hiện có. Người của Diệm không muốn gián điệp, họ chỉ muốn có biệt kích”. Cuối cùng, hai bên đã đạt được một thỏa hiệp nhân nhượng. Sung được phép tiếp tục kiểm soát nhóm gián điệp thứ hai của Đại Việt được huấn luyện tại Saipan, những người này sau đó sẽ được giữ lại ở Sài Gòn để trở thành các cán bộ đảng. Tuy nhiên, Diệm sẽ nắm nhóm gián điệp thứ nhất và Sung hoàn toàn bị loại ra khỏi chương trình này. Xem thêm: Ngô Đình Nhu, phi vụ Maneli 1963, và cuộc "đi đêm" giữa Sài Gòn và Hà Nội Sung bị thay bằng Tướng Nguyễn Ngọc Lễ, người đứng đầu Lực lượng Cảnh sát Quốc gia mới. Lễ trước đây đã từng làm việc với Phái đoàn Quân sự Sài Gòn trong khi tổ chức thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam (Vietnam Veterans League), cho nên ông ta đã quen biết Lansdale. Với việc Tướng Lễ về danh nghĩa phụ trách chương trình này, Cao Xuân Tuyên, một quan chức Đại Việt phụ trách việc tuyển mộ, đã dùng điện đài thông báo cho nhóm Binh về những thay đổi mới trong hệ thống chỉ huy ở Sài Gòn. Leslie, thay mặt cho các gián điệp khác, đã hứa sẽ trung thành với Diệm. Tướng Nguyễn Ngọc Lễ Tướng Nguyễn Ngọc Lễ Như Bác sĩ Sung đã e ngại trước đó, thay đổi này không chỉ là ngữ nghĩa. Theo điều hành của những người chỉ huy mới, các điệp viên nằm vùng được chỉ thị phải hoàn thành hai sứ mạng có vẻ không phù hợp nhau. Một mặt, họ được khuyến khích tiến hành các hoạt động biệt kích, thí dụ như các hoạt động phá hoại mà nhất định sẽ bị nhà cầm quyền chú ý. Mặt khác, họ được yêu cầu phải mở rộng mạng lưới gián điệp, một công việc chỉ có thể được hoàn thành trên cơ sở gây càng ít chú ý càng tốt. Các điệp viên trong nhóm Binh tất nhiên tỏ ra do dự không muốn tiến hành hoạt động phá hoại, trừ một trường hợp ngoại lệ. Sử dụng chất nổ dạng viên than, điệp viên nhóm Binh đã đặt một viên than như vậy tại sân ga ở Hải Phòng. Sau này, theo tin từ hãng thông tấn chính thức của Hà Nội, do cảnh giác nên một công nhân đã phát hiện ra viên than đáng nghi ngờ đó trước khi nó phát nổ, gây thiệt hại. Cũng có những nỗ lực tuyển mộ điệp viên mới. Dưới vỏ bọc là thợ sửa chữa xe đạp, Leslie báo cáo rằng anh ta đã tuyển mộ thêm hai người mới, vốn đều là thành viên của Đại Việt. Từ Sài Gòn, Tướng Lễ và các đồng nghiệp người Mỹ của ông ta không ấn tượng lắm với những kết quả hạn chế đã đạt được cho đến lúc đó. Tồi tệ hơn nữa, một số sĩ quan CIA trong tòa Đại sứ Mỹ còn cho rằng họ đã phát hiện được những dấu hiệu cho thấy các điệp viên này hoạt động hai mang. Để kiểm tra, các sĩ quan này muốn đưa một trong các điệp viên nói trên vào Nam để thông báo tình hình. Lansdale kịch liệt phản đối kế hoạch đó, sợ rằng việc đó sẽ làm lộ vỏ bọc của điệp viên và sẽ không thể đưa anh ta trở lại Miền Bắc được nữa. Nhưng, đúng vào lúc đó, Lansdale sắp sửa được luân chuyển về nước và việc đảm trách các hoạt động bán quân sự thuộc Phái đoàn Quân sự Sài Gòn được chuyển giao cho cơ quan CIA. Do quan hệ giữa Phái đoàn Quân sự Sài Gòn và cơ quan CIA chưa bao giờ là tốt, lời khuyên của Lansdale đã không được chú ý tới. Một thành viên của nhóm hoạt động ở Nam Định bí danh là André đã xung phong vào Nam. Ngày 6 tháng 9 năm 1956, André đã lẻn vào Nam, đi dọc theo vùng cán xoong và vượt biên. Sau khi vào đến Sài Gòn, trong hai ngày liền, anh ta đã bị kiểm tra bằng phương pháp phát hiện nói dối. Sau khi CIA cảm thấy hài lòng với kết quả rằng anh ta không phải điệp viên hai mang, anh ta được thông báo về tình hình trong suốt chín ngày nữa, rồi được đưa trở lại miền Bắc với một lượng tiền lớn để phân phát cho các thành viên trong nhóm Binh. Chuyến đi của André đã khôi phục niềm tin của CIA vào mạng lưới Binh, thậm chí làm cho cơ quan này bị mù tịt không biết gì về thực tế tình hình ở Bắc Việt Nam. Trong suốt một năm trời, các nhà chức trách cộng sản đã thắt chặt vòng vây đối với nhóm điệp viên này bắt đầu từ khi ba viên than chứa chất nổ bị phát hiện trong một đợt công an truy quét các phần tử buôn bán than trái phép. Khi cuộc điều tra lần theo nguồn gốc của chất nổ phát hiện ra một điệp viên của nhóm Binh, cơ quan tình báo Bắc Việt Nam đã thâm nhập được vào một phần của mạng lưới này. Trong số các điệp viên bị bắt có André. Trong một thời gian ngắn, Hà Nội đã không dẹp toàn bộ hoạt động của Đại Việt, với hy vọng sẽ sử dụng nó để phục vụ cho mình. Trong mỗi nhóm gián điệp Binh có ít nhất một điệp viên vẫn được phép hoạt động dưới sự kiểm soát của Sài Gòn cho đến tận mùa thu năm 1958. Các nhóm này đã cùng nhau tuyển mộ thêm được ít nhất bảy người nữa, trong đó có một phụ nữ. Sau đó, ngày 12 tháng 11 năm 1958, lực lượng an ninh của Bắc Việt Nam đã bắt toàn bộ số điệp viên còn lại trong nhóm Binh. Bosco, viên chỉ huy nhóm ở Hải Phòng vốn được huấn luyện tại Saipan, đã bị bắt khi một trong những người trong nhóm anh ta sử dụng điện đài giấu trong một chiếc bàn để chuyển một bức điện vào Sài Gòn. Tổng chỉ huy Leslie bị bắt ở Hà Nội trong khi một thành viên thứ ba, cũng được đào tạo ở Saipan, mật danh là Philip, bị bắt ở Nam Định. Ngày 4 tháng Tư năm 1959, tòa án xét xử nhóm Binh được tổ chức ở Hà Nội. Mười nghi phạm bị đưa ra công khai trước công chúng. Bên cạnh phòng xử án, nhà chức trách Hà Nội cũng trưng bày trang thiết bị thu được từ nhóm Binh. Những thứ được trưng bày gồm súng tiểu liên giảm thanh, thuốc nổ, súng lục loại nhỏ dùng lò xo để nạp đạn giấu trong tuýp thuốc đánh răng, điện đài. (CIA đã không che giấu bằng chứng cẩn thận. Trong khi các vũ khí không có nhãn mác gì, trên điện đài lại gắn mác, ghi rõ là của Binh chủng Thông tin của Lục quân Mỹ). Theo phương cách tuyên truyền mạnh mẽ điển hình, Hà Nội cũng đưa ra những bức ảnh chụp một gián điệp đang đọc tạp chí khiêu dâm với những bức hình các cô gái đẹp dán trên tường. Sau 24 giờ nghị án, các bản án đã được đưa ra. Bảy người bị kết án tới mười năm tù. Philip, một gián điệp hoạt động ở Nam Định, bị mức án hai mươi năm tù. Bosco, hoạt động ở Hải Phòng, bị tù chung thân. Leslie, tổng chỉ huy ở Hà Nội, bị kết án tử hình. Theo đài phát thanh Hà Nội, một đám đông khoảng mười ngàn người bên ngoài phòng xử hoan nghênh các quyết định nói trên. Một tòa án ở Hải Phòng đã kết án mười gián điệp trong mạng lưới nằm vùng của Quốc Dân Đảng vào tháng Tư năm 1965 (Ảnh: TTXVN) Một tòa án ở Hải Phòng đã kết án mười gián điệp trong mạng lưới nằm vùng của Quốc Dân Đảng vào tháng Tư năm 1965 (Ảnh: TTXVN) Vũ khí và các đồ tiếp tế được tìm thấy trong những nơi chôn giấu của gián điệp Quốc Dân Đảng được trưng bày tại phiên tòa ở Hải Phòng (Ảnh: TTXVN) Vũ khí và các đồ tiếp tế được tìm thấy trong những nơi chôn giấu của gián điệp Quốc Dân Đảng được trưng bày tại phiên tòa ở Hải Phòng (Ảnh: TTXVN) Nhóm Binh đã bị lộ tẩy, nhưng mạng lưới của nhóm Hao chỉ tồn tại mà hầu như không có hoạt động gì. Ngay từ đầu đã không suôn sẻ, người đứng đầu nhóm, Nguyễn Tiến Thành, đã bị mất liên lạc với phần lớn các thành viên trong nhóm. Do vậy, nhiều trang thiết bị của nhóm đã không bao giờ được tìm thấy. Tồi tệ hơn nữa, anh ta phải nhiều tháng mới có trả lời đầu tiên từ Sài Gòn bằng điện đài. Theo những tường thuật của Hà Nội, Thành đã ra lệnh cho hai điệp viên “vào đầu tháng tám” (ngày cụ thể không được nêu) phải tìm đường vào Nam qua khu phi quân sự phân cách hai miền ở vĩ tuyến 17. Rõ ràng, Hà Nội có vẻ lúng túng khi tiết lộ chuyện này xảy ra vào tháng 8 năm 1963: bởi trong suốt tám năm trời, gián điệp của Quốc Dân Đảng đã hoạt động ở Bắc Việt Nam mà không bị phát hiện. Năm 1963, cả hai điệp viên được lệnh tới khu phi quân sự đã hoảng sợ và quay trở lại Hải Phòng sau khi mới chỉ đi được một nửa đường. Sau đó ít lâu, một nhóm điệp viên khác của Quốc Dân Đảng cũng cố tìm cách đi sang phía Tây, đến vùng cao nguyên dọc biên giới với Lào để sống trong một buôn làng và lên kế hoạch cho các hoạt động chống lại chính phủ Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, cũng giống hai điệp viên trước, nhóm này đã rút ngắn chuyến đi và quay trở lại. Đến năm 1964, vận may của cả nhóm đã chấm dứt. Năm đó, trong khi di dời một nghĩa trang cũ ở Hải Phòng, một nhóm công nhân xây dựng Bắc Việt Nam đã phát hiện một thùng chứa vũ khí. Hà Nội lập tức tiến hành điều tra và cuối cùng, mười gián điệp của Quốc Dân Đảng bị bắt và đưa ra xét xử một năm sau đó. Hai trong số này bị xử tử, số còn lại bị phạt tù. Điều kỳ lạ là không có một lời nào nhắc tới số phận của mười một người khác trong mạng lưới nhóm Hao. Cho đến tận năm 1977, câu trả lời cho vấn đề trên mới được hé mở, qua phát biểu của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong một hội nghị bí mật ở Hà Nội. Khi nói về vấn đề điều tra các đối tượng chính trị, ông Bộ trưởng có lỡ mồm đề cập một mạng lưới nằm vùng hoạt động cho đến tận giữa những năm 1970: “Năm 1974, Bộ đã triển khai đặc vụ để bắt liên lạc (với các điệp viên nằm vùng), thông qua sử dụng mật khẩu và dấu hiệu nhận biết để bắt liên lạc. Ngay lập tức, họ đã liên lạc được với nhau”. Hai thập kỷ sau kế hoạch đầy tham vọng mà Phái đoàn Quân sự Sài Gòn triển khai nhằm do thám Bắc Việt Nam, mọi việc đã chấm dứt. Đã không còn ngựa thành Troia nào nữa. Dương Văn Đoàn dịch (bài đăng trên Tạp chí Phương Đông số tháng 1-2021)

Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

Vì sao các Vua trước thời Hậu Lê công nhận Triệu Đà, sau đó lại phủ nhận

Lời giới thiệu của chủ blog Bách Việt: Một trong những chủ đề luôn gây tranh cãi trong lịch sử VN là vai trò của Triệu Đà và nước NamViệt. Trong khi các triều đại TQ không thừa nhận vai trò của Triệu Đà và Nam Việt, thì các vua chúa VN trước thời kỳ Hậu Lê đều đã coi Triệu Đà là "bậc tiền bối", nhưng từ thời Hậu Lê về sau bắt đầu có tư tưởng bác bỏ; và sau CM tháng Tám cũng tiếp tục làm ngơ không bàn lại chuyện này. Tuy nhiên trong bối cảnh ngày nay khi tái xuất hiện của CN bành trướng đại Hán đang đe dọa nền độc lập tự chủ của VN thì có lẽ không thể không bàn  lại chủ đề này không chỉ vì sự thật lịch sử mà còn vì yêu cầu thiết thực của nó. 

Để cung cấp thêm dữ liệu tham khảo về chủ đề nói trên, trang chủ Bách Việt xin mạn phép trích đăng lại nguyên văn tài liệu dưới đây của tạp chí Nghiên cứu Lịch sử http://nghiencuulichsu.com/2014/07/04/nhan-thuc-cua-le-van-huu-va-ngo-si-lien-ve-lich-su-viet-nam/ để thiện tham khảo -Bách Việt.  


Nhận thức của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về lịch sử Việt Nam

This entry was posted on Tháng Bảy 4, 2014, in Lịch sử Việt Nam and tagged Lê Văn HưuNgô Sĩ Liên. Bookmark the permalinkĐể lại bình luận

Vietnam Borderless Histories. Published August 29th 2006 by University of Wisconsin Press.
“Một so sánh về nhận thức của hai sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về lịch sử Việt Nam” [“Lê Văn Hưu and Ngô Sĩ Liên - A Comparative of their Perception of Vietnamese History”] là tựa đề tiểu luận của Yu Insun, nguyên giáo sư ban Sử Á châu tại Đại học Quốc gia Hán Thành [Seoul National University].

Tiểu luận này đã được tình bày tại Hội nghị “Vietnam: Beyond the Frontiers” do Viện Quốc tế, Đại học California tại Los Angeles tổ chức trong hai ngày 11-12, 2001.

Nghiên cứu này của giáo sư Insun đã đăng lại [p. 47-71] trong cuốn “Viet Nam: Borderless Histories” do Nhung Tuyet Tran và Anthony Reid là chủ biên và University of Wisconsin Press phát hành năm 2006. Bạn đọc có thể tham khảonguyên bản Anh ngữ tại đây.

Dưới đây bản lược dịch và nhận định về tiểu luận của Insun đã đăng trên Tạp chí Truyền Thông Communications, số 41 & 42, Thu Đông 2011, trang 156-168.

Cho tới giữa thập niên 80 thế kỷ XX, Hà Nội vẫn coi quốc sử như một côngcụ phục vụ các chính sách của Nhà nước. Giới sử gia ngoại quốc đặt lại vấn đề: sử quan ngày trước, trong thời phong kiến, nhận thức quốc sử ra sao? Đã có một số sử gia ngoại quốc lưu ý tới vấn đề đó. Trong công trình nghiên cứu này, Yu Insun trả lời câu hỏi trên bằng cách so sánh quan điểm sử học của hai sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên, theo thứ tự là sử quan đời Trần và sử quan đời Lê, tác giả bộ Đại Việt Sử Ký và bộ Sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, (gọi tắt là Toàn Thư). 

Theo bộ sử Đại Việt Toàn Thư, vua Trần Thánh Tông, trị vì từ năm 1258 tới 1278, chỉ thị cho Lê Văn Hưu tham khảo sách sử và soạn thành bộ Đại Việt Sử Ký, gồm 30 quyển, dựa theo phương pháp viết sử của Tư Mã Quang, tác giả bộ sử Tư Trị Thông Giám của Trung Quốc. Nội dung bộ sử của Lê Văn Hưu, bắt đầu từ Triệu Đà, trị vì vào khoảng cuối thế kỷ III và chấm dứt vào cuối đời nhà Lý (1225). Ngày nay giới sử học trong và cả ngoài Việt Nam chỉ tìm thấy bộ Toàn Thư gồm 15 cuốn.

Bộ Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, lấy bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên, Trung Quốc, làm mẫu mực, là một bộ sử biên niên, khởi từ đời Hồng Bàng, khoảng ba ngàn năm trước công nguyên, kéo dài tới cuối nhà Lê vào năm 1428. Năm 1428,vua Lê Thánh Tông xuống chiếu chỉ thị cho các sử thần thâu thập sử liệu gửi về tàng trữ tại Đông Các. Ngô Sĩ Liên được chỉ định tham dự vụ thâu thập sử liệu nói trên, nhưng ông có tang thân phụ, phải về quê cư tang. Hết tang, ông trở lại viện Đông Các thời việc thâu thập sử liệu đã hoàn tất. Ngô Sĩ Liên, sử dụng những sử liệu do ông thu thập được, trong số đó có bộ Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu, đối chiếu sử liệu Việt Nam với sử liệu Trung Quốc, viết thành bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, gồm có Ngoại Kỷ, Bản Kỷ và Lê Thái Tổ Kỷ, dâng lên vua Lê Thánh Tông năm 1479. Số sử liệu tàng trữ tại viện Đông Các đã thất lạc, chỉ còn bộ Toàn Thư truyền lại tới ngày nay. Sau đó, sử quan dưới triều Lê ghi chép việc nước viết thành bộ Đại Việt Sử Ký Tục Biên.

Hai bộ sử Đại Việt Sử Ký và Toàn Thư, tạm đủ cho việc đối chiếu quan điểm sử học của hai sử quan Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên. Trong Đại Việt Sử Ký, Lê Văn Hưu viết ra 30 lời bàn. Trong Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên để lại 170 lời bàn. Trong số đó, cho tới hết triều nhà Lý, sử quan Ngô Sĩ Liên viết 83 lời bàn: tức là có 56 lời bàn nhiều hơn tổng số lới bàn của Lê Văn Hưu. Có nhiều lời bàn, cả hai sử quan cùng bàn về một sử kiện. Đối chiếu lời bàn của hai sử quan trong những trường hợp này giúp người đọc dễ bề so sánh quan điểm sử học của hai nhà viết sử. Tác giả bộ Đại Việt Sử Ký Tục Biên không ghi thêm lời bàn.

Lê Văn Hưu

Chế độ truyền ngôi vua cho con để làm Thái Thượng Hoàng bắt đầu từ năm 1258 dưới triều vua Trần Thái Tông gây thêm mối căng thẳng ngoại giao giữa hai nước. Hơn nữa tục nhà Trần cho các hoàng tử công chúa thành hôn với nhau, nhắm mục đích củng cố vương quyền, cùng sự việc nho giả không được trọng dụng trong triều đình, đều đi ngược lại với tục lệ Trung Quốc. Thế nên việc vua Trần sai Lê Văn Hưu viết Đại Việt Sử Ký 大 史 có thể coi như triều đình nhà Trần muốn chứng tỏ quyền bình đẳng và sự độc lập giữa nước Đại Việt với triều đình nhà Nguyên khi đó đang đô hộ Trung Quốc.Lê Văn Hưu người Thanh Hóa, sinh năm 1230, mất năm 1322, thọ 93 tuổi. Ông đậu tiến sĩ năm 1247. Sau khi phục vụ trong nhiều chức vụ trong triều, ông được bổ nhiệm làm Chưởng Sử Quán, kiêm binh bộ thượng thư. Nhiều sử gia nghiên cứu về Lê Văn Hưu đặt câu hỏi: có những sử kiện quan trọng nào đã xẩy ra từ năm năm 1230 khi Lê Văn Hưu ra đời tới năm 1272 khi ông hoàn tất bộ Đại Việt Sử Ký? Hiển nhiên sử kiện quan trọng nhất là thời kỳ quân Nguyên xâm lăng nước Đại Việt năm 1257, tiếp theo là cuộc chiến thắng của Trần Hưng Đạo đuổi quân Nguyên ra khỏi bờ cõi. Triều đình nhà Nguyên phải phong cho vua Trần Thánh Tông, năm 1261 làm An Nam Vương, từ đó việc bang giao giữa Nhà Nguyên với nhà Trần mới trở lại bình thường. Tuy nhiên nhà Trần luôn luôn phải đề phòng nạn xâm lăng của nhà Nguyên. Năm 1271, nhân dịp đăng quang vua Nguyên đòi vua Trần sang chầu. Năm sau vua Nguyên lại gửi ba sứ thần sang Đại Việt tìm cột đồng do Mã Viện trồng để đánh dấu biên thùy Hoa-Việt sau khi thắng quân Hai Bà Trưng năm 42 Tây lịch.

Việc Lê Văn Hưu chọn Triệu Đà 佗 làm khởi điểm cho việc dựng nước Đại Việt là bằng chứng sự bình dằng giữa hai nước Hoa-Việt. Điều đó căn cứ trên truyền thuyết lịch sử dưới đây. Năm 196 trước Tây lịch. Sau khi thống nhất được đất nước, Hán Cao Tổ 漢 リ 祖 sai sứ là Lục Giả x ネ sang Nam Việt phong vương cho Vũ Vương Triệu Đà. Gặp sứ giả nhà Hán, Triệu Đà hỏi: “Ta với Cao Tổ ai lớn hơn ai?” Lục Giả trả lời Hán Cao Tổ trị vì một nước lớn hơn ắt là lớn hơn.” Triệu Đà hỏi tiếp: “Nếu ta sinh ra tại Trung Quốc, liệu ta có lớn bằng Cao Tổ không?”

Sau khi Lữ Hậu 呂后 tiếm ngôi nhà Hán, việc bang giao giữa Nam Việt và nhà Hán trở nên căng thẳng hơn. Năm 183 trước Tây lịch, Triệu Đà tự xưng là Vũ Đế ngang hàng với các Hoàng Đế nhà Hán. Sau khi Hán Văn Đế 漢 文 帝 lên ngôi, một mặt Triệu Đà sai sứ sang triều cống nhà Hán, để duy trì hoà bình giữa hai nước, một mặt vẫn tự coi là ngang hàng với hoàng đế nhà Hán.

Suốt thời gian Lê Văn Hưu làm quan trong triều nhà Trần, nước Đại Việt luôn luôn bị nạn xâm lăng của Bắc Triều đe dọa, nên chắc chắn là ông thấu hiểu tầm quan trọng của việc duy trì nền độc lập, cùng việc tranh đấu để tránh những mối nhục trong việc bang giao. Triệu Đà là vị vua khéo léo giữ được độc lập cho đất nước mà không hy sinh sự đồng đẳng giữa hai nước Nam Việt và Trung Quốc nên không bị mất mặt trên đường ngoại giao. Đó là những lý do khiến Lê Văn Hưu coi Triệu Đà như người sáng lập ra nước Việt Nam. Dĩ nhiên Lê Văn Hưu cũng biết đến những vị lãnh đạo khai quốc khác trước Triệu Đà, nhưng hình ảnh những vị khai quốc đó mờ nhạt trước hình ảnh Triệu Đà vì những vị lãnh đạo khai quốc trước Triệu Đà đều bằng lòng với danh hiệu vương 王 do triều đình Trung Quốc phong cho, và không dám nghĩ tới việc xưng đế 帝. Bình về Triệu Đà, Lê Văn Hưu viết cái lớn lao của người trị nước không phải là cái lớn lao của diện tích đất nước người đó mà là cái đức 德 của người đó. Lời đó là lời Lê Văn Hưu bác bỏ lời Lục Giả so sánh Triệu Đà với Hán Cao Tổ trên đây. Trong lời Lê Văn Hưu, chữ đức không chỉ trọn vẹn là chữ đức của đạo nho. Chứ đức này là chữ đức của một vị đế, biết hạ mình để giữ nước, như lời Lão Tử Đạo Đức Kinh. Lê Văn Hưu đã đoan kết là hai vị vua đầu nhà Trần, Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông đều đã theo đúng gương Triệu Đà, một mặt giữ viện toàn được đất nước, mặt khác mềm mỏng giữ được bình đẳng ngoại giao với triều nhà Nguyên.

Lê Văn Hưu căn cứ trên mức bình đẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam để ghi làm năm khởi đầu nền độc lập của nước Việt Nam đối với Trung Quốc.
Ông không chọn năm 939, năm Ngô Quyền xưng vương, một năm sau khi đánh bại quân Nam Hán; mà ông chọn năm 966, năm Đinh Bộ Lĩnh xưng đế sau khi dẹp xong loạn mười Hai Xứ Quân, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đặt kinh đô tại Hoa Lư. Ông công nhận công lao Ngô Quyền đã chiến thắng quân Nam Hán, nhưng ông chỉ trí Ngô Quyền không xưng đế, không chọn quốc hiệu, không đặt kinh đô, do đó Ngô Quyền không hoàn tất sự nghiệp dựng nước cho người Việt. Đinh Bộ Lĩnh, theo Lê Văn Hưu mới chính là người Trời sai xuống, dẹp tan loạn xứ quân, tiếp tục truyền thống dựng nước của Triệu Vũ Đế.

Đặt cao nền độc lập của người Lạc Việt, Lê Văn Hưu kết tội những ai đã làm mất nền tự chủ của nước nhà. Ông nghiêm khắc chỉ trích tể tướng Lữ Gia 呂 嘉. Vào cuối năm 113 trước Tây lịch. Dưới triều vua Triệu Ai Vương 哀 王, vua nhà Hán sai An Quốc Thiếu Quí 安 國 少 季, sang Nam Việt. Sứ nhà Hán nguyên là tình nhân của hoàng hậu Cù Thị 樛 氏, bà hoàng này vốn chỉ là tỳ thiếp của Triệu Minh Vương, nên cùng dỗ dành Ai vương đem nước Nam Việt về dâng nhà Hán. Lữ Gia biết mưu này, can ngăn không được, nên cùng mấy đại thần đem cấm binh vào giết sứ giả nhà Hán, Cù Thị và Ai vương, tôn Kiến Đức建 德, con trưởng của Minh Vương, mẹ là người Nam Việt lên làm vua. Nhà Hán nhân truyện này dấy quân xâm chiếm Nam Việt. Lữ Gia không chống nổi, và Nam Việt trở thành quân huyện nhà Hán. Việc Lê Văn Hưu kết tội Lữ Gia không giữ nổi nước chứng tỏ lòng ông thiết tha với nền tự chủ của Nam Việt.

Tiếp theo, Lê Văn Hưu chỉ trích những nhà lãnh đạo quần chúng, nổi dậy chống Trung Quốc, nhưng không đạt được tự chủ cho đất nước. Đó là trường hợp Lý Bí 李 チ (còn đọc là Lý Bôn) dưới triều vua Lương Vũ Đế 梁 武 帝, năm 541 thống lĩnh người nghĩa dũng nổi lên đánh đuổi thái thú Giao Châu là Tiêu Tư 蕭 諮 về Trung Quốc rồi chiếm giữ thành Long Biên 龍 編. Theo truyền thống truyền lại từ Triệu Đà, Lý Bí tự xưng là Nam Việt Đế, lấy quốc hiệu là Vạn Xuân. Sau đó vua nhà Lương sai tướng Trần Bá Tiên s 8 先 mang quân sang tái chiếm Giao Châu. Lý Bí thua, phải chạy trốn vào ẩn trong vùng núi, rồi sau đó bị bệnh chết. Lê Văn Hưu chỉ trích Lý Bí khá nặng. Ông coi Lý Bý chỉ là một viên tướng trung bình, nhưng đồng thời ông tiếc cho Lý Bí, trong tay có cả năm chục ngàn quân, đã để lỡ dịp giành lại tự chủ cho người Nam Việt, chỉ vì tài cầm quân của Lý Bí không bằng tài cầm quân của Trần Bá Tiên.

Theo Yu Insun, Lê Văn Hưu thay đổi quan điểm về sử học của ông khi bàn về Hai Bà Trưng. Dẫu cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, chống triều đình Trung Quốc, chấm dứt bằng một chiến bại, nhưng tinh thần chiến đấu giành tự chủ cho đất nước đã ăn sâu vào lòng toàn dân. Điều đó chính là điều đã giúp người dân nước Đại Việt thành công trong việc đánh đuổi quân Nguyên.

Vốn là một nhà Nho, Lê Văn Hưu tất tin tưởng rằng người phụ nữ đã đứng lên giành tự chủ cho đất nước, tất nhiên người trai đất Đại Việt phải bảo vệ đất nước hữu hiệu hơn nữa.

Lê Văn Hưu đề cao việc bảo tồn nền tự chủ của đất nước khi ông so sánh vua Lý Thái Tổ, tức Lý Công Uẩn 李 公, vị vua khởi nghiệp nhà Lý, và trị từ 1010 tới 1028 với vua Lê Đại Hành nhà Tiền Lê tên là Lê Hoàn ホ 桓 làm quan Thập Đạo Tướng Quân nhà Đinh.

Nhân khi vua nhà Đinh còn nhỏ tuổi, và lại có quân nhà Tống sang xâm, quân sĩ tôn Lê Hoàn lên làm vua, tức Đại Hành Hoàng Đế 大L 皇帝. Người đời sau ca tụng Lê Đại Hành có công phá Tống bình Chiêm, dẹp yên được loạn nước. Dưới mắt Lê Văn Hưu, Lý Công Uẩn không hơn Lê Hoàn vì công dựng nước nhưng vì Lý Công Uẩn có đức dầy hơn Lê Hoàn lập ra triều nhà Lý lâu dải hơn, bởi khi đất nước lâm nguy, ngưòi lãnh đạo không những cần có tài mà còn cần có cả đức mới giữ được nước lâu dài.

Lê Văn Hưu cho là nhà Tiền Lê không tồn tại lâu dài vì Lê Hoàn đã không sớm chọn thái tử, khiến khi khi Lê Hoàn vừa băng hà thời đã xẩy ra việc tranh giành ngôi vua giữa các hoàng tử kéo dài bẩy tháng. Để cuối cùng người con út là Long Đĩnh フ cướp ngôi của anh là vua Lê Trung Tông ホ 中 宗 mới lên ngôi được ba ngày. Long Đĩnh là một ông vua vô cùng bạo ngược, và theo Lê Văn Hưu thì chính Long Đĩnh là người làm đổ ngôi nhà Tiền Lê.

Đằng khác Lê Văn Hưu chỉ trích triều Lý không sớm chọn thái tử, nên khó tránh được nạn nội loạn, bởi theo tục nhà Lý, tới khi lâm bệnh nặng, vua cha mới chọn người có tài năng đảm lược làm người kế vị. Nhà Trần lấy đó làm gương, nên vua cha sớm chọn thái tử, nhường ngôi cho thái tử và lên ngôi thái thượng hoàng.

Lê Văn Hưu chỉ trích vua Đinh Bộ Lĩnh phong cho năm bà vợ lên ngôi hoàng hậu. Sau đó, Lê Hoàn cũng như nhiều vua nhà Lý phong chức hoàng hậu cho nhiều bà vợ. Sụ kiện này chứng tỏ nhà vua muốn củng cố sức mạnh của triều đình bằng cách liên kết với gia đình các hoàng hậu. Tuy nhiên cũng vì vậy mà cơ đồ triều chính bị đe dọa bởi nội loạn trong thời kỳ tuyển chọn người kế vị hay chính trong ngày truyền ngôi.

Lê Văn Hưu còn chỉ trích Lý Công Uẩn chỉ phong vương cho cha, trong khi vua Thái Tổ nhà Tống phong đế cho thân phụ. Sử gia còn hiểu là việc phong vương cho cha là do đức vô kỷ của Lý Công Uẩn. Đồng thời ông chỉ trích Lý Công Uẩn đã sao lãng truyền thống vun đắp tự chủ từ Triệu Đà truyền xuống.

Cũng vì chủ ý đề cao việc duy trì nền tự chủ của đất nước, nên Lê Văn Hưu kết tội mọi hành động của các vị vua chúa sao lãng việt đề cao nền tự chủ. Đó là trường hợp Ngô Xương Văn, con trai của Ngô Quyền. Lê Văn Hưu ngợi khen Ngô Xương Văn 吳 昌 文về việc ông tha thứ cho Dương Tam Kha 楊 三 哥 cậu ruột ông về tội cướp ngôi vua của cháu, nhưng ông chỉ trích Ngô Xương Văn về việc mời Ngô Xương Ngập 吳 昌 岌 về cùng coi việc nước, khiến từ đó xẩy ra việc Ngô Xương Ngập tranh quyền, thế lực nhà Ngô mỗi ngày một kém và đất nước lâm vào nạn mười hai xứ quân. Lê Văn Hưu chỉ trích vua Lý Thái Tông 李 太 宗 trong việc dẹp giặc Nùng, đã cương quyết xử tử Nùng Tồn Phúc 儂 存 福 nhưng đã vì lòng từ bi tha cho Nùng Trí Cao 儂 智 リ và còn gia phong cho y chức Thái Bảo, và chỉ một năm sau Trí Cao lại làm loạn, và xin phụ thuộc vào Trung Quốc. Lời chỉ trích của Lê Văn Hưu chứng tỏ mối lo ngại của ông nhân vụ tạo phản của Trí Cao mà mở đường cho Trung Quốc xâm lăng Nam Việt. Lê Văn Hưu cũng chỉ trích vụ vua Lý Anh Tông 李 宗 bình Chiêm Thành, lập một vua mới cho Chiêm Thành. Chỉ ít lâu sau, vị vua này bị một hoàng thân cướp ngôi. Vua Anh Tông phong vương cho hoàng thân phản loạn đó. Chính vị vua thứ hai này chỉ it năm sau mang quân xâm phạm đất nước nhà Lý.

Ngoài mối quan tâm về nền tự chủ và hoà bình của đất nước, Lê Văn Hưu còn nặng lòng về việc tham gia triều chính của nho giả. Ông chỉ trích vua Lý Thái Tổ, sau khi di đô về Thăng Long đã không xây cất Thái Miếu cho xứng đáng, như vậy là không tròn chữ hiếu của đạo Nho. Ông còn chỉ trích việc vua Lý Thái Tổ cho xây cất quá nhiều chùa chiền, làm hao tài sản quốc gia phí phạm công lực của nhân dân. Chắc chắn là Lê Văn Hưu phải biết là vua Lý Thái Tổ thủa trẻ đã được nhà sư Phật Giáo chùa Cổ Pháp tên là Lý Khánh Vân 李 慶 文 nhận làm con nuôi, dậy dỗ thành người, nhưng phải chăng vì lợi ích quốc gia ông đã thẳng thắn chỉ trích lòng mộ đạo Phật của nhà vua.

Đằng khác, người đọc sử ghi nhận rằng ngay từ đầu nhà Trần đã có những kỳ thi kén người tài theo học đạo Nho ra giúp nước. Nhưng trên thực tế, số nho giả trong triều không nhiều, và không được giữ những địa vị then chốt.

Cho tới khi quân nhà Nguyên xâm lấn dất Đại Việt, vì nhu cầu ngoại giao, địa vị nho gia trong triều nhà Trần mới được nâng cao và dần dần tăng tiến thành một lực lượng chống đối ảnh hưởng Phật Giáo ở trong triều. Yu Insun cho rằng việc Lê Văn Hưu chỉ trích vua Lý Thái Tổ trên đây chỉ là một đường lối khéo léo của sử gia để gián tiếp chỉ trích phe thân Phật Giáo trong đời Trần.

Ngô Sĩ Liên 

Ngô Sĩ Liên người trấn Sơn Nam 山 南, có người nói ông từng theo phò Lê Lợi ホ 利 trong cuộc khởi nghĩa chống quân nhà Minh. Ngô Sĩ Liên đậu tiến sĩ năm 1442, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Ông giữ chức Đô Ngự Sử dưới triều vua Lê Nhân Tông. Dưới triều vua Lê Thánh Tông, ông làm Quốc Tử Giám Ty Nghiệp, và tham dư vào việc soạn thảo bộ quốc sử. Năm sinh năm mất của ông không được sách sử ghi chép rõ, nhưng nhiều người tin rằng ông mất năm 99 tuổi. Với tuổi thọ đó, cuộc đời Ngô Sĩ Liên trải dài qua nhiều thăng trầm của lịch sử: cuộc suy thoái của nhà Trần và nhà Hồ; tiếp theo là hai mươi năm đô hộ dưới triều nhà Minh với chính sách tàn khốc tiêu diệt văn hóa Việt Nam; nhưng quan trọng hơn cả là cuộc chiến đấu giành tự chủ cho đất nước của Lê Lợi. Từ khi Lê Lợi dựng nên nhà Lê, ảnh hưởng Khổng Giáo trong triều lớn mạnh cùng số quan gia nho học ngưòi vùng châu thổ sông Nhị và thắng thế ảnh hưởng Phật Giáo của nhóm Phật Tử được trọng dụng người vùng Thanh Hóa trong việc triều chính, và ảnh hưởng Khổng giáo trở thành độc tôn dưới triều vua Lê Thánh Tông. Trong sinh hoạt tinh thần đó Ngô Sĩ Liên đã trước tác bộ sử Toàn Thư.

Nhiều sử gia ngày nay tự hỏi lý do nào đã khiến Ngô Sĩ Liên trước tác bộ sử Toàn Thư, trong khi ông đã từng là một thành viên trong công cuộc sưu tập bộ quốc sử tàng trữ tại viện Đông Các? Có thể trả lời là việc soạn thảo bộ quốc sử là một công cuộc gồm nhiều nho giả, thế nên người tham dự khó bề bày tỏ những lời phê phán bình luận. Bởi vậy, theo sử gia Wolter(1), Ngô Sĩ Liên đã đơn độc trước tác bộ sử Toàn Thư với chủ đích là đề cao Khổng Giáo như một cơ động giúp cho người nước Đại Việt có một học thuyết căn bản để duy trì nền tự chủ trong thời gian đất nước gặp cơn nguy biến và theo Yu Insun, thì hành động này giúp Ngô Sĩ Liên đứng được ra ngoài vụ tranh chấp ảnh hưởng giữa Nho Giả vùng châu thổ sông Nhị với Phật Tử được trọng dụng vùng Thanh Hóa. Trong toàn bộ Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên viết ra tổng cộng 170 lời bàn, trong số đó có 86 lời bàn về sử kiện xẩy ra dưới triều nhà Lý; 72 lời bàn về sử kiện xẩy ra dưới đời nhà Trần và nhà Hồ cùng hai chục năm tranh đấu chiến thắng quân xâm lược nhà Minh, phần còn lại là lời bàn về sử kiện dưới triều vua Lê Thái Tổ.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.

Khổng Học, nhất là Tân Khổng Học ảnh hưởng mãnh liệt trên việc trước tác của Ngô Sĩ Liên, lời bàn của ông đều đặt trên đạo lý gia tộc và tương quan giữa vua và dân. Ông tin tưởng chắc chắn rằng đó là hai điểm quan trọng trong việc trị nước an dân. Năm 1320, khi vua Trần Anh Tông (tri vì từ 1293-1314) băng hà, ông trích sách Mạnh Tử(2):

天 下 之 本 在 國
Thiên hạ chi bổn tại quốc
國 之 本 在 家
quốc chi bổn tại gia
家 之 本 在 ?
gia chi bổn tại thân

Nghĩa là: gốc của thiên hạ là nhà nước, gốc của nước là nhà, gốc của nhà là thân. Rồi Ngô Sĩ Liên thêm: “thân có tu, nhà mới tề, nước mới trị, điều ấy là khuôn vàng thước ngọc từ đời Nghiêu Thuấn, và đến ngày nay vẫn thật đúng như vậy.” Do đó ông chỉ trích bất kỳ ai vi phạm nguyên tắc này.

Ngô Sĩ Liên hết lời ca tụng vua Trần Anh Tông, vì nhà vua dốc lòng tu thân, thờ phụng cha mẹ, giữ vẹn niềm hòa hảo với họ hàng, và nhất là thờ kính tổ tiên. Thế nên, theo Ngô Sĩ Liên, triều vua Trần Anh Tông là một triều thịnh trị, nhân dân sống đời an lạc. Tuy nhiên, ông vẫn còn chỉ trích vua Trần Anh Tông hãy còn một điều thiếu sót trong lễ quốc táng Thượng Hoàng Trần Nhân Tông.

Ngô Sĩ Liên cực lục chỉ trích việc làm loạn luân nhân để củng cố cho ngôi nhà Trần được bền vững. Đó là sự việc Thái Sư Thống Quốc Hành Quân Chinh Thảo Sự Trần Thủ Độ cưỡng ép vua Trần Thái Tông, giáng Chiêu Thánh Hoàng Hậu, người đã lấy vua Trần Thái Tông được 12 năm, xuống làm công chúa, rồi đem chị bà Chiêu Thánh, tức vợ Trần Liễu lên làm Hoàng Hậu, bởi vì Hoàng Hậu Chiêu Thánh không có con nối dõi và bà chị đã có thai được ba tháng. Việc phi luân này đã được lập lại dưới Triều vua Trần Dụ Tông (trị vì từ 1341 tới 1369). Ngoài ra, Ngô Sĩ Liên còn trách vua Trần Thái Tông đã hứa gả công chúa cho Trung Thành Vương, rồi cuối cùng lại gả cho một hoàng thân khác.

Ngô Sĩ Liên tin tưởng là ngôi vua sẽ truyền cho người con trưởng của vua cha. Nếu Hoàng Hậu không có con nối dõi, con một thứ phi có thể được phong làm Thái Tử. Trong trường hợp Hoàng Hậu sau đó sinh Hoàng Nam, Thái Tử con bà thứ phi phải từ chức nhường ngôi cho Hoàng Nam con bà Hoàng Hậu. Thế nên Ngô Sĩ Liên thương tiếc Hoàng Thân Trần Quốc Chấn bị sát hại dưới triều vua Trần Minh Tông (trị vì từ 1314 tới 1329) chỉ vì hoàng thân đã can ngăn việc lập một Hoàng Nam con một bà thứ phi lên làm Thái Tử, không đợi Hoàng Hậu sinh Hoàng Nam. Ngô Sĩ Liên cũng tin tưởng là Hoàng Nam em có thể được nối ngôi vua khi Hoàng Nam anh không đủ khả năng nối ngôi. Thế nên Ngô Sĩ Liên chỉ trích vua Đinh Bộ Lĩnh lập con bà thứ phi là Hạng Lang làm thái tử thay vì truyền ngôi cho con trưởng con bà Hoàng Hậu là Hạng Liễn vốn là người văn võ toàn tài.

Trong trường hợp Hoàng Đế không có Hoàng Nam nối ngôi, thời phải lập một ngưòi cháu trai, như trường hợp vua Lý Nhân Tông nhưòng ngôi cho cháu. Ông cực lực chống lại việc nhường ngôi cho một công chúa như việc vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Công Chúa Lý Chiêu Hoàng. Theo Ngô Sĩ Liên thì vua Lý Huệ Tông đã không noi gương vua Lý Nhân Tông nên đã mở cửa cho Trần Thủ Độ lật đổ ngôi nhà Lý và lập ra nhà Trần.

Nhà Trần cũng theo gương nhà Lý không nhất thiết truyền ngôi vua cho Hoàng Nam con cả của vua. Để tránh việc tranh giành ngôi vua, nhà Trần đặt ra tục lập ngôi Thái Thượng Hoàng. Dầu thấu hiểu tục lệ nhà Trần như vậy, Ngô Sĩ Liên cũng bàn là không nên lập vua mới khi vua cha hãy còn sống, để một nước một lúc có hai vua.

Ngô Sĩ Liên chủ trương đàn bà góa không được tái giá để giữ tiết với chồng cũ, theo đúng lệ tam tòng của Nho Giáo. Tục này phải được bắt đầu từ trong hoàng tộc, để làm gương cho tứ dân. Chủ trương đó nhằm tránh những vụ thoán ngôi vua như vụ Lê Hoàn lấy bà Dương Hậu lập ra nhà Tiền Lê, vụ Trần Thủ Độ lấy vương Hậu Linh Từ lập ra nhà Trần. Đi xa hơn, Ngô Sĩ Liên ca ngợi việc các vương hậu nước Chàm phải chịu thiêu sống để giữ vẹn đức tam tòng.

Người đọc sử tự hỏi rằng, vốn là một nho giả chân chính, phải chăng Ngô Sĩ Liên nhiệt liệt cổ động cho việc gái hóa phải chết theo chồng là để duy trì chữ Trung của đạo nho theo câu tục trai trung một chúa, gái trinh một chồng. Cũng trong dòng tư duy này, sử còn chép truyện năm 1285, khi quân nhà Trần phá quân Nguyên, chủ tướng quân Trung Quốc là Toa Đô bị trúng tên chết. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp vua Trần Nhân Tông, vua thấy người dũng kiệt hết lòng với chúa mới than rằng: “Làm bầy tôi nên như người này!” rồi cởi áo bào đắp vào thủ cấp Toa Đô, sai làm lễ mai táng theo quân cách.

Với chủ trương trai trung một chúa, Ngô Sĩ Liên cực lưc bài bác những mưu đồ thoán nghịch của Lê Hoan, Trần Thủ Độ và nhất là Hồ Qúy Ly, cả ba cùng là những tặc thần lập mưu giết vua để cướp ngôi vua. Theo Ngô Sĩ Liên, Lê Hoan đáng tội chết chém, Trần Thủ Độ không đáng so sánh với loài chó lợn và Hồ Qúy Ly bi trời phạt khiến giặc Nam không giết nổi thời giặc Bắc không tha.

Theo Yu Insun thời Ngô Sĩ Liên nặng lời chỉ trích Lê Hoàn, Trần Thủ Độ và Hồ Quý Ly thí vua cướp ngôi báu, không chỉ riêng bởi Ngô Sĩ Liên là một tân nho giả mà còn phản ánh nội tình triều nhà Lê, ngày đó, khi vua Lê Nhân Tôn bị người anh là Nghi Dân 宜 民, trước kia đã được phong làm Thái Tử, sau vì mẹ phải tội cho nên bị phế bỏ. Năm 1459 Nghi Dân đồng mưu với Lê Đắc Ninh 黎 得 寧, Phạm Ban 范 般 v.v… nửa đêm trèo vào thành giết vua Lê Nhân Tôn và hoàng thái hậu, tự xưng làm vua rồi sai sứ sang Trung Quốc cầu phong.

Mối quan tâm của Ngô Sĩ Liên là sự an nguy của đất nước trước sự đe dọa của kẻ thù phương Bắc, dẫu rằng nhà Minh sau khi bị đuổi ra khỏi bờ cõi không còn là một mối đe dọa nặng nề như quân nhà Nguyên dưới đời Trần.

Thế nên, theo Yu Insun, từ khi vua Lê Lợi chiến thắng quân Minh sau hai mươi năm đô hộ, mối lo chính của Ngô Sĩ Liên là sự bất ổn của tình hình quốc nôi khơi ngòi cho việc xâm lăng của ngoại bang. Đó là lý do khiến Ngô Sĩ Liên đặt bản văn Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi vào trong bộ sử Toàn Thư.

Bản Bình Ngô Đại Cáo xác quyết Đại Việt là một nước có văn hiến riêng, bờ cõi phân chia rõ ràng, phong tục khác hẳn Trung Quốc. Khác với Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên khẳng định là nước Đại Việt có một lịch sử dài không thua lịch sử Trung Quốc, bắt đầu từ vua Thần Nông. Theo tục truyền Kinh Dương Vương, vị vua đầu tiên của đất Nam Việt là anh khác mẹ của Đế Nghi, vị vua đầu tiên của người phương Bắc. Thật thế, Đế Minh, cha của Đế Nghi và Kinh Dương Vương là cháu ba đời vua Thần Nông, có ý lập Kinh Dương Vương lên nối ngôi, nhưng Kinh Dương Vương từ chối nhường ngôi cho Đế Nghi làm vua phương Bắc, còn mình làm vua phương Nam.

Ngô Sĩ Liên lo lắng cho mối an nguy nước Đại Việt phản ánh trong lời bàn của ông về những vụ xâm lăng của quân Mông Cổ từ phương Bắc, qua những vụ xâm phạm bờ cõi miền Nam của quân Chiêm. Ngô Sĩ Liên ca tụng thượng hoàng Trần Nhân Tông, không những có tài điều binh khiển tướng đánh đuổi được quân Nguyên, mà còn triệu tập Hôi Nghị Diên Hồng, đoàn kết toàn dân thành một khối quyết tâm bảo vệ đất nước. Ngược lại ông chê trách triều nhà Trần bỏ ngỏ biên giới miền Nam mở đường cho quân Chiêm Thành sang quấy phá Đại Việt. Ông chê trách Thượng Hoàn Dụ Tông quen sống trong cảnh đất nước thịnh vương bình an mà trở thành quá phóng túng, chỉ nghĩ tới chuyện mua vui. Ông cũng chê trách vua Trần Nghệ Tông quá mải mê với văn học mà sao lãng việc binh đến độ để quân Chiêm Thành vào cướp phá thành Thăng Long vào mùa thu năm 1371.

Nhân danh một nhà Tân Nho, Ngô Sĩ Liên bài bác ảnh hưởng Phật Giáo trong hai triều nhà Lý và nhà Trần. Ông quan niệm việc vua Lý Thái Tổ khi vừa đăng quang liền cho xây chùa tô tượng Phật khắp nơi trong nước là một điều quá đáng, dầu ông không quên là vua Lý Thái Tổ là con nuôi của nhà sư Lý Khánh Vân, và nhờ vậy mà thành nhân. Ngô Sĩ Liên ca tụng vua Trần Nhân Tông là một vị minh quân từng chiến thắng quân Nguyên xâm phạm đất Đại Việt, nhưng ông coi việc vua Trần Nhân Tôn, sau khi thoái vị làm Thái Thượng Hoàng, trở thành đệ nhất tổ giòng Thiền Trúc Lâm, là một hành động chứng tỏ vua Trần Nhân Tôn không giữ vẹn chữ Trung Dung của đạo Nho.

Hơn nữa,vẫn nhân danh là một nho sĩ, Ngô Sĩ Liên còn phê bình việc thay đổi niên hiệu của vua Lý Thái Tổ năm 1034. Năm ấy hai nhà sư Nghiêm Bảo Tính và Phạm Minh Tâm tự thiêu, thi thể cháy kết thành thất bảo. Vua xuống chiếu đem thất bảo đó giữ ở chùa Trường Thánh để thờ, nhân dịp đó vua đổi niên hiệu là Thụy Thông; sử thần Ngô Sĩ Liên có lời bàn(3):

Thuyết nhà Phật gọi là xá lị tức là khi tự thiêu mình, tinh khí tụ lại kết thành một thứ lửa không cháy được, cho nên gọi là bảo. Tương truyền là người nào học Phật thành thì xác hồn làm bảo như thế. Vì rằng người sãi đoạn tuyệt tính dục thì tinh khí kết thành ra thứ ấy. Người đời cho là không thường, thấy mà cho là lạ, có biết đâu là tinh khí dương tụ lại mà thành thôi. Vua cũng mê hoặc mà đổi niên hiệu. Từ đấy về sau những người hiếu danh, cạo đầu làm sãi, nhẫn nại chịu chết như loại Trí Không này nhiều lắm.

Xuống tới đời Hoàng đế Lý Nhân Tôn, năm 1096, thái sư Lê Văn Thịnh làm phản, Vua Lý Nhân Tôn tha tội chết, an trí tại Thao Giang. Nguyên bấy giờ vua ngự thuyền xem đánh cá tại hồ Dâm Đàm. Chợt có mây mù, trong đám mù có tiếng thuyền bơi tới, vua lấy giáo ném. Bỗng chốc mây mù tan, trong thuyền ngự có con hổ. Có người than: Nguy lắm rồi! Có người đánh cá tên Mục Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì hổ biến ra thành thái sư Lê Văn Thịnh. Lê Văn Thịnh vốn có tà pháp làm ra vậy để tính truyện cướp ngôi. Vua thưởng cho Mục Thuận, và cắt đất cho lập ấp. Ngô Sĩ Liên có lời bàn về truyện này(4):

Người làm tôi định cướp ngôi giết vua mà được miễn tội chết! Thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin Phật Giáo. Mùa thu tháng 7 ngày 25, Ỷ Lan hoàng thái hậu băng hà, hỏa táng; dâng thụy là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu, lại bắt người thị nữ chôn theo.

Ngô Sĩ Liên có lời bàn về việc này(5):
Hoả táng là theo Phật Giáo, chôn theo là tục nhà Tần. Nhân Tôn Hoàng Đế làm cả hai việc ấy, hoặc giả theo lời của Thái Hậu chăng?

Theo Yu Insun, lời bàn của Ngô Sĩ Liên, đặt câu hỏi về lời di chú của Ỷ Lan hoàng thái hậu, là bởi Ngô Sĩ Liên có ý bài bác vua Lý Nhân Tông vì chính nhà vua, theo tục lệ Phật Giáo, ban lệnh thi hành việc hỏa táng và việc chôn theo thị nữ của hoàng thái hậu.

So Sánh hai Sử Gia

Yu Insun cho rằng quan điểm sử học của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên là sản phẩm của thời đại của mỗi người. Với Lê Văn Hưu, sử kiện đáng chú ý nhất là những thành tích kháng Nguyên giữ nước của triều nhà Trần. Với Ngô Sĩ Liên, một sử thần của triều nhà Lê, Khổng Học lúc đó đã trở thành một nền quốc học, thế nên giáo lý cũng như tập tục Khổng Giáo là những mối quan tâm hàng đầu. Đằng khác, Ngô Sĩ Liên đã từng sống qua hai chục năm dưới sự đô hộ của quân Minh, nên ông hiểu rõ tầm quan trọng của nền an ninh quốc nội trong việc ngăn chặn người phương Bắc xâm lấn đất nước vả duy trì nền tự chủ của nước Đại Việt.

Khác biệt giữa quan điểm sử học của hai sử thần thấy rõ qua sự khác biệt giữa những lời bàn trên cùng một sử kiện. Lời bàn của Lê Văn Hưu chú trọng tới nền an nguy của đất nước và sự bình đẳng giữa nước Nam với nước Bắc.

Ngô Sĩ Liên chỉ bàn về hai vấn đề này trong bốn sự kiện. Đằng khác, Ngô Sĩ Liên dành 11 lời bàn về giáo lý Khổng Học, Lê Văn Hưu chỉ nói tới vấn đề liên quan tới Khổng Hoc trong 5 lời bàn. Sự khác biệt giữa hai sử thần còn rõ rệt hơn nữa qua những lời bàn cùng về những sử kiện dưới triều vua Ngô Quyền và vua Đinh Bộ Lĩnh.

Lê Văn Hưu tin chắc rằng Ngô Quyền không hoàn toàn tạo dựng được nền tự chủ cho đất nước như Triệu Đà đã đặt được trước khi quân của Hán Vũ Đế sang xâm lấn, bởi chiến thắng của Ngô Quyền đã khiến nhà Hán phải bỏ mộng xâm lược, nhưng ông tiếc cho Ngô Quyền không nhân dịp đó xưng đế như Triệu Đà. Ngược lại Lê Văn Hưu ca tụng Ngô Quyền ngoài tài thống lĩnh quân đội còn giỏi tổ chức việc nội trị, tạo nên nề nếp cho đời sống nhân dân. Ông kết luận rằng với một công nghiệp như vậy, Ngô Quyền xứng đáng là một Hoàng Đế của nước Nam Việt. Lê Văn Hưu chủ xướng là Đinh Bộ Linh đã giành được nền tự chủ hoàn toàn cho đất nước, không kém gì Triệu Đà đời trước. Đinh Bộ Lĩnh đã tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu mới, sửa sang giềng mối triều chính. Ngược lại, Ngô Sĩ Liên coi nhẹ công nghiệp của Đinh Tiên Hoàng, vì ông chủ trương là Ngô Quyền đã giành được hoàn toàn nền tự chủ cho Nam Việt. Ngược lai ông chỉ trích Đinh Bộ Lĩnh và con cả là hoàng tử Đinh Liễn là không hành xử theo đúng tập tục Khổng Học. Đinh Bộ Lĩnh đã vượt qua truyền thống truyền ngôi của các triều đại Trung Quốc đặt trên nền tảng Khổng Học: nhà vua đã bỏ con trưởng Đinh Liễn và lập con út là Hạng Lang lên nối ngôi. Đinh Liễn đã tùng theo cha chinh chiến nhiều năm trong việc dẹp loạn 12 xứ quân, nên tức giận lập mưu giết Hạng Lang, nên cũng không giữ tròn đạo làm tôi theo Khổng Học, đồng thời gây ra mối loạn trong nhà để người phương Bắc có cơ hội nhòm ngó bờ cõi. Người đọc sử có thể hiểu rằng lời Ngô Sĩ Liên chỉ trích cha con Đinh Bộ Lĩnh phản ảnh ý ông muốn ám chỉ trích việc tranh giành ngôi báu trong triều nhà Lê lúc bấy giờ.

Ảnh hưởng Khổng Giáo từ triều nhà Lê không những chỉ mỗi ngày một lớn mạnh trong việc triều chính mà còn thấm nhập từ từ vào trong mọi hoạt động trong dân gian, truyền qua đời nhà Nguyễn, cho tới khi người Pháp bỏ thi Hương hồi đầu thế kỷ XX mới suy giảm. Nhiều nhà sử học ngày nay cho rằng điểm triều đình các nhà Đinh, Lê, Lý và Trần tôn trọng Phật Giáo hơn Khổng Giáo là một truyền thống của người Việt Nam khác với truyền thống của người Trung Quốc lấy Khổng Giáo làm quốc giáo. Chính nhờ điểm khác biệt đó mà dân Việt Nam đã không bị Trung Quốc đồng hóa.

(1) Wolter, “What Else May Ngô Sĩ Liên Mean” in “Sojourners and Settlers: Histories of Southeast Asia and the Chinese”, University of Hawai Press 2001. Edited by Reid Anthony.
(2) Đoàn Trung Còn, Tứ Thơ Mạnh Tử, NXB Thuận Hóa, Huế, 1996, tr.12.
(3) Ngô Sĩ Liên, Toàn Thư, Tập 1, bản dịch của Cao Huy Gịu, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1967, tr. 210.
(4) Ngô Sĩ Liên, ibid. tr. 242.
(5) Ngô Sĩ Liên, ibid. tr. 248.
Đăng bởi Trần Kinh Nghị  

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Hội thảo khoa học “Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng”


(QT) - Nhân kỷ niệm 455 năm chúa Nguyễn Hoàng dựng đô khởi nghiệp ở Quảng Trị (1558 - 2013) và 400 năm ngày mất của ông (1613 -2013), UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học “Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng”. Tham dự hội thảo về phía Trung ương có Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật, Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam; các giáo sư, nhà khoa học, nhà nghiên cứu ở Trung ương, khu vực và địa phương. Về phía tỉnh Quảng Trị có đồng chí Nguyễn Đức Chính, UVTVTU, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các Ban Đảng, Văn phòng Tỉnh ủy, các sở, ban, ngành cấp tỉnh và huyện Triệu Phong. 


Lãnh đạo tỉnh và các giáo sư, nhà khoa học, nhà nghiên cứu tham dự hội thảo


Chúa Nguyễn Hoàng, vị chúa Nguyễn đầu tiên có công lao to lớn đối với hành trình vĩ đại khai phá xứ Đàng Trong và mở mang bờ cõi về phía Nam, sinh năm 1525, là con trai thứ của An Thành Hầu Nguyễn Kim, người đã phò vua Lê Trang Tông để trung hưng lại nhà Lê từ năm 1533. Sinh thời, Nguyễn Hoàng đã nổi tiếng là một vị tướng tài, văn võ kiêm toàn, được vua Lê phong tước Đoan Quận Công. Năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng mang sứ mệnh của vua Lê vào trấn nhậm xứ Thuận Hóa, khi ấy nổi tiếng còn là vùng đất “Ô châu ác địa”, sau đó đến Quảng Nam, phát triển thành một lực lượng hùng mạnh. Vùng đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng mở rộng từ Thuận Hóa đến bắc Phú Yên, nhưng căn cứ đều xây dựng trên đất Quảng Trị. Trấn dinh đầu tiên đặt ở thị trấn Ái Tử, năm 1570 dời sang Trà Bát, đến năm 1600 lại dời về đông Ái Tử tức Dinh Cát. Trong những năm trấn nhậm ở đây, với chính sách khoan hòa rộng mở, biết hội nhập và kế thừa, sử dụng nhân tài giúp sức, ông đã biến Thuận Hóa thành một xứ sở trù phú, giao thương tấp nập, một trung tâm chính trị, văn hóa mới ở phương Nam.

Qua dòng chảy của thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, thiên tai trên mảnh đất khắc nghiệt này, các di tích thời chúa Nguyễn Hoàng bị hủy hoại nhiều, do vậy chưa hội đủ điều kiện để nhìn nhận, đánh giá khách quan, khoa học những vấn đề lịch sử đặt ra cho Nguyễn Hoàng và vùng đất Quảng Trị trong buổi đầu lập nghiệp. Hội thảo lần này là dịp để làm sáng tỏ những vấn đề cốt lõi như tại sao chúa Nguyễn chọn mảnh đất Quảng Trị đặt làm trụ sở chính quyền lúc dựng nghiệp; vị thế và đóng góp của Quảng Trị trong sự nghiệp kinh dinh, đặt cơ sở cho công cuộc mở cõi của chúa Tiên... Ban tổ chức hội thảo đã nhận được 43 báo cáo của các nhà khoa học trong cả nước đề cập và tham luận đủ các khía cạnh về chúa Nguyễn Hoàng và công cuộc dựng nghiệp của ông.

Trong khuôn khổ hội thảo, các nhà khoa học đã tập trung thảo luận vào đời chúa khởi nghiệp, chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) và vùng đất dấy nghiệp Quảng Trị theo ba chủ đề chính gồm: quê hương, thân thế và sự nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng; Nguyễn Hoàng với vùng đất Quảng Trị; tư liệu, di tích Nguyễn Hoàng và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị.

Phát biểu tại hội thảo, đồng chí Nguyễn Đức Chính, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đã cảm ơn sự phối hợp đầy trách nhiệm, nhiệt tình của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, ghi nhận những nỗ lực cố gắng của lãnh đạo huyện Triệu Phong và Sở KH&CN để tổ chức hội thảo.

Với những kết quả thu nhận được qua hội thảo khoa học lần này, thay mặt lãnh đạo tỉnh, đồng chí yêu cầu UBND huyện Triệu Phong và Sở VH,TT&DL cần có những biện pháp tuyên truyền, giới thiệu một cách hữu hiệu, thiết thực kết quả hội thảo đến đông đảo các tầng lớp nhân dân về các giá trị di sản, di tích Nguyễn Hoàng và chúa Nguyễn trên đất Quảng Trị; tiến hành thu thập chứng cứ, khảo sát, khai quật khảo cổ để hoàn chỉnh hồ sơ trình Bộ VH, TT&DL xếp hạng di tích Quốc gia đối với hệ thống di tích, di sản này.

Ngoài ra, huyện Triệu Phong cần từng bước hoàn thiện kịch bản khung Lễ hội dân gian truyền thống Ái Tử - đất khởi nghiệp của xứ Đàng Trong nhằm làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân; phối hợp với Hội đồng tư vấn đặt tên đường phố và các công trình công cộng của tỉnh nghiên cứu, rà soát đưa vào danh mục tên các danh nhân, nhân vật lịch sử để sử dụng đặt tên cho các tuyến đường và công trình công cộng tại Ái Tử, Triệu Phong và tỉnh Quảng Trị.
                                                        Tin, ảnh: THANH TRÚC

Thứ Năm, 19 tháng 8, 2010

QUANH VẤN NẠN LỊCH SỬ: KẺ CÁT CỨ HAY ANH HÙNG MỞ CÕI?

(những ý tưởng ngoài lề khi đọc tiểu thuyết “Ký tự chìm trên bia đá cổ” của Tố Hoài)
 
Trần Xuân An
 
   Mười hai tuổi rưỡi, tôi rời xa gấu áo của mẹ và quê nhà Quảng Trị. Vì thế, tôi không được vinh dự mang trên ngực áo trắng học trò thời trung học danh tính của một nhân vật lịch sử — Nguyễn Hoàng (1524 – 1613) — vốn là niềm tự hào của Quảng Trị, của cả Đàng Trong, rồi của cả nước hơn ba trăm năm (1558 – 1885…), và còn âm hưởng mãi đến sau này.
Thế rồi, sau Ngày Thống nhất đất nước (1975), những học sinh và cựu học sinh Trường Trung học Nguyễn Hoàng đồng hương phải bóc tên ông ra khỏi ngực áo hay kỉ niệm của mình.
Mặc dù tôi không là học sinh của ngôi trường mang tên ông, tôi cũng biết có những thập niên niềm tự hào ấy trở thành nỗi trăn trở, nhức nhối sử học, không phải bên ngoài mà phía trong ngực áo của nhiều người, không chỉ ở Quảng Trị mà trên cả mọi mảnh đất Tổ quốc.
Sự thật một thời vừa qua là vậy đó.
Gần đây, giới sử học gần như đã phục hồi danh dự cho nhân vật Nguyễn Hoàng. Sách báo mới xuất bản, ấn hành không còn gọi ông là kẻ cát cứ, chia cắt Đất nước thành hai đàng, Đàng Trong và Đàng Ngoài. Với cái nhìn lịch sử – cụ thể, sử học không còn bị chi phối bởi đường lối chính trị thời tiến hành chiến tranh thống nhất đất nước (1954 – 1975), Nguyễn Hoàng hầu như đã được phục hồi danh dự (tôi nhấn mạnh): Nguyễn Hoàng lại là người anh hùng mở cõi.
  
Cách đây một tháng, tôi được anh Tố Hoài tặng cuốn tiểu thuyết mới nhất của anh, “Ký tự chìm trên bia đá cổ” (Nxb. Thanh Niên, 12-2009). Trong tiểu thuyết này, với lời tự ngỏ đầu sách, người đọc ngỡ anh viết về Nguyễn Diễn (1), con trai của Nguyễn Hoàng. Nhưng cả cuốn tiểu thuyết lại không phải như vậy. Nguyễn Diễn chỉ được viết lướt qua trong khoảng mươi trang. Kì thực, Tố Hoài tỏ ra quan tâm đến thân sinh của Nguyễn [Phúc] Diễn hơn! Hơn thế nữa, anh đã thể hiện một cách nhìn không chỉ về Nguyễn Hoàng, mà cả những tiền bối, hậu bối trực hệ của ông, ấy là Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Kim, ấy là Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi, ở ngôi: 1613-1635), Nguyễn Phúc Lan (chúa Thượng, ở ngôi: 1635-1548), Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền: 1648-1687)… Theo đó, tôi nhận ra Tố Hoài không tập trung khắc họa một nhân vật nào thành hình tượng quán xuyến từ đầu đến cuối tiểu thuyết, mặc dù nhân vật anh quan tâm nhất vẫn là Nguyễn Hoàng.
Tiểu thuyết của Tố Hoài vì thế, có thể gọi là tiểu thuyết biên niên, bao quát cả một chiều dài lịch sử từ thời nhà Hậu Lê suy đốn bởi hai tên vua Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, dẫn đến sự kiện Mạc Đăng Dung cướp ngôi, dựng nên triều Mạc (1527-1592), khiến cuộc chiến tranh Nam (Lê) – Bắc (Mạc) bùng nổ, kéo dài đến khoảng sáu mươi năm, song song và nối tiếp bởi thời kì Nguyễn Hoàng cùng các hậu duệ của ông từng bước xây dựng, mở mang Đàng Trong, và rồi, không cách nào khác, cuộc chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh tất yếu phải nổ ra, bất phân thắng bại, trong quãng thời gian bốn mươi lăm năm, tính từ trận đầu (1627) đến trận cuối (1672), chưa kể trận Hoàng Ngũ Phúc thừa lệnh Trịnh Sâm vào xâm chiếm Thuận Hóa (khoảng 1774-1775).
Theo tôi, “Ký tự chìm trên bia đá cổ”, nếu không gọi là tiểu thuyết biên niên, hẳn phải gọi là tiểu thuyết thế phả.
Tuy vậy, với ngọn bút tiểu thuyết, Tố Hoài có ý thức, rất có ý thức nữa là đằng khác, anh không muốn thuyết phục ai phải tin những điều anh thu nhặt từ sách sử để đưa vào trang văn của mình là tuyệt đối xác thực. Hầu như anh không có một chú thích nào ghi rõ xuất xứ những sử liệu anh sử dụng. Tôi biết, đối với tác giả Tố Hoài và nhiều người đọc tiểu thuyết, vấn đề là chất lượng tiểu thuyết có hấp dẫn, sinh động không, chứ không phải là có xác thực hay không. Đây chính là điểm khiến tôi đã cầm “Ký tự chìm trên bia đá cổ” lên tay, xem tổng quát, rồi buông khỏi tay. Nhưng rồi, tôi lại tự bảo, phải tự kìm lại quan điểm khoa học lịch sử phải thật sự khoa học của mình để đọc thử tiểu thuyết “Ký tự chìm trên bia đá cổ” theo cách viết của Tố Hoài, cũng là cách viết của nhiều nhà văn từ trước đến nay, vốn phóng túng như thế.
Đọc xong, tôi lại nhận ra, Tố Hoài cũng không có ý định viết tiểu thuyết dựa vào sử liệu để nhằm đưa ra những triết lí lịch sử, kiểu Shakespeare với những vở kịch lừng danh của ông, cũng không bay bướm, đầy chất nghệ sĩ, lặn sâu vào nội tâm nhân vật lịch sử, bất chấp điều tiếng “xuyên tạc lịch sử” như Nguyễn Xuân Khánh gần đây.
Thật ra, Tố Hoài viết tiểu thuyết nhưng không xa các bộ sử kí như “Đại Nam thực lục tiền biên”, “Đại Nam liệt truyện tiền biên” hay các bộ sử của giới sử học từ Trần Trọng Kim cho đến các nhà nghiên cứu ngày nay là bao. Anh còn chứng tỏ là đã tham khảo nhiều sách báo, nhưng anh không chú thích xuất xứ mà thôi. Tất nhiên, anh có hư cấu thêm cho sinh động và cũng để dẫn mạch truyện.
Điều đáng ghi nhận ở Tố Hoài là anh đã có một cái nhìn sáng tỏ hơn, như chê Lê suy tàn hung ác, dâm loạn, chê Lê trung hưng bạc nhược, hèn yếu, chê Mạc vô sỉ, đê hèn, xem ngai vàng, sự sang giàu của mình hơn cả quốc thể, đất đai Tổ quốc, chê Trịnh Kiểm và hậu duệ nham hiểm, đoạt công, cướp quyền, tham lam quyền lực, ức hiếp vua Lê; đồng thời anh đề cao “nhà đảo chính” Nguyễn Văn Lang, thực chất là phù chính diệt tà, trung trinh với nhà Hậu Lê, đề cao Nguyễn Kim sáng suốt, trầm tĩnh, quyết sang Lào lập căn cứ địa, bền chí phục hưng Hậu Lê, đề cao Nguyễn Hoàng và thân nhân, hậu duệ của ông đã thức thời, tỉnh táo, từ cái thế bị Trịnh Kiểm chèn ép, đe dọa đến tính mệnh bản thân, dòng tộc mà lánh vào chốn “biên châu ác địa” để lập nên một bờ cõi riêng, chủ yếu trên đất cũ của các triều trước (từ Đèo Ngang đến Thạch Bi), để rồi ở vào thế không thể không bẻ gãy gọng kìm Chiêm Thành phía nam để tồn tại, không thể không khai khá Thủy Chân Lạp để đủ thực lực kinh tế trong sự đối đầu với Đàng Ngoài, không thể không mở cửa giao thương với các nước xa gần để trao đổi và tìm kiếm sự ủng hộ. Tố Hoài cũng dành nhiều trang ca ngợi Đào Duy Từ, một kẻ sĩ vì lí lịch gia đình “con hát” mà bị Lê – Mạc bạc đãi.
Một điều khác, không rõ có phải vì anh từng là một bác sĩ quân y trong cuộc chiến tranh thống nhất đất nước vừa qua, tận mắt chứng kiến, chữa trị bao nhiêu thương binh với những vết thương khủng khiếp, nên anh sợ hãi máu me chiến trận, không hề miêu tả cận cảnh, chi tiết một trận chiến nào? Vả lại, Nam (Lê – Trịnh) – Bắc (Mạc), Trong (Nguyễn) – Ngoài (Lê – Trịnh) thực chất chỉ là nội chiến, không phải là hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chống ách ngoại xâm!
Một điều khác nữa, khi Tố Hoài cố sức biện minh cho việc Nguyễn Hoàng quyết gả con gái út Ngọc Tú của mình cho Trịnh Tráng (có nghĩa là cháu nội của Ngọc Bảo [Trịnh Tráng] lấy cháu gọi Ngọc Bảo là cô ruột [Ngọc Tú]), nhằm mục đích chính trị là cho Ngọc Tú làm con tin, để tránh sự truy sát của Trịnh Tráng đối với Nguyễn Hoàng, người đọc thấy Tố Hoài đã sa lầy vào hôn nhân đồng huyết, tuy không trực hệ, nhưng cũng nên tránh, nên phê phán (2).
Gấp tiểu thuyết “Ký tự chìm trên bia đá cổ” lại, tôi nghĩ, thực ra, “kẻ cát cứ” Nguyễn Hoàng muốn tạo dựng, mở mang một đất nước riêng, dẫn đến cuộc nội chiến Trong (Nguyễn) – Ngoài (Lê – Trịnh) về sau giữa các hậu duệ của hai Đàng, tổn hại biết bao xương máu nhân dân, mặc dù trong tám trận (kể cả trận 1774-1775), có đến bảy trận là do chúa Trịnh chủ động tiến đánh. “Kẻ cát cứ” ấy có tội với lịch sử hay không? Nhưng còn phải thấy Nguyễn Hoàng dẫu sao cũng là người biết Trịnh Kiểm “tạo điều kiện” cho Dương Chấp Nhất đầu độc thân sinh của chính Nguyễn Hoàng (là Nguyễn Kim), cướp công gầy dựng lực lượng trên đất Lào, công làm chủ cả Thanh Hóa, Nghệ An của cha mình, lại ức hiếp vua Lê, nhưng ông nhẫn nhịn, tìm kế vừa thoát thân vừa mở mang, khai hoang, lập ấp ở vùng “biên châu ác địa”; cũng phải thấy, trong bối cảnh “trâu mạnh trâu được, cỏ mạnh cỏ được”, giữa hai gọng kìm Đàng Ngoài và Chiêm Thành phía trong, đất nước ta cũng nhờ các chúa Nguyễn, biết phát huy ý chí, ước nguyện của tiền bối Nguyễn Hoàng, đành phài bẻ gãy gọng kìm phía nam, khai hoang vùng Thủy Chân Lạp vốn thưa vắng bóng dáng cư dân, trước hết để tồn tại, nên đất nước mới dài rộng như ngày nay.
Trong giai đoạn chiến tranh thống nhất đất nước (1954-1975), một khi Nguyễn Hoàng trở thành biểu tượng chính nghĩa trong việc chia cắt đất nước, đối với Miền Nam, thì ở Miền Bắc, tất nhiên Nguyễn Hoàng phải bị hạ bệ. Vả lại, ai bảo sử Miền Bắc không còn ảnh hưởng của quan điểm “chính thống” Đàng Ngoài phong kiến?
Đến nay, đã hơn ba mươi năm giang sơn quy về một mối, công cuộc Đổi mới (1986) đã mở ra khá lâu, nên ý thức sử học khách quan đã được phục hồi. Đây là lúc phải xác định cùng nhau rằng, mọi hiện tượng lịch sử có vẻ giống nhau, nhưng thực chất vẫn khác nhau, và phải mài sắc quan điểm lịch sử – cụ thể. Vâng, không thể đánh đồng Triệu Đà nhà Tần với Nguyễn Hoàng, càng không thể đánh đồng cuộc nội chiến Nam (Lê – Trịnh) – Bắc (Mạc) với cuộc nội chiến Trong (Nguyễn) – Ngoài (Lê – Trịnh), và lại càng không thể đánh đồng hai cuộc nội chiến thực sự ấy với cuộc chiến tranh chống Mỹ – tả đạo, thống nhất đất nước vừa qua (1954-1975). Vâng, cũng vậy, không thể đánh đồng lũy Thầy, lũy Trường Dục do kiến trúc sư quân sự Đào Duy Từ thực hiện với hàng rào điện tử Mac Namara!
Nếu không rạch ròi như thế, các nhân vật lịch sử vẫn còn bị lợi dụng, xuyên tạc với ý đồ, mục đích trước mắt của hậu thế.
Tôi cũng tin rằng “Ký tự chìm trên bia đá cổ” sẽ giúp cho chúng ta cảm thông được nỗi đau của những người bị lâm vào thế cùng đường, buộc phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để phiêu dạt đến chân trời, góc bể, biên châu ác địa. Riêng tôi, tôi vẫn nhận thức việc ra đi khỏi đất nước đến ba triệu người sau cuộc chiến tranh thống nhất đất nước vừa qua (1954-1975) là khác hẳn với những cuộc di dân thời phong kiến, nhưng biết đâu cũng là dịp để có một Nguyễn Hoàng nơi đất Mỹ, một nước Mỹ vốn hào phóng với nạn nhân của chính Nhà nước Mỹ và của chính Vatican.
Và dẫu sao, đây cũng chỉ là những ý tưởng ngoài lề khi đọc tiểu thuyết “Ký tự chìm trên bia đá cổ” của Tố Hoài.
Trần Xuân An
9:00 – 15:07’, ngày 27-7 HB10 (2010)
tưởng niệm các nhân vật lịch sử thời phong kiến đã bị hi sinh trong cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và tả đạo, thống nhất đất nước vừa qua (1945-1954-1975).
____________________________
(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam liệt truyện tiền biên” (ĐNLT.TB.), bản dịch Viện Sử học, tập 1, Nxb. Thuận Hóa, 1993, tr. 36-37: Tiểu truyện về Nguyễn [Phúc] Diễn: …”Giặc họp quân lại để đánh, Diễn bị chết trận. Vua Lê truy tặng thái phó, thụy là Nghĩa Liệt. Diễn có 4 trai là Tuấn, Đường, Cơ, Phú đều theo Thái tổ (tức Nguyễn Hoàng – TXA. ct.) vào Nam”.
(2) ĐNLT.TB., sđd., tr. 66-67: Ngọc Bảo (con gái Nguyễn Kim) lấy Trịnh Kiểm, sinh ra Trịnh Tùng (Tòng). Trịnh Tùng là cha đẻ của Trịnh Tráng. Trịnh Tráng (cháu nội ruột của Ngọc Bảo) lấy Ngọc Tú (con gái Nguyễn Hoàng, tức là cháu gọi Ngọc Bảo bằng cô ruột). Cần có quan điểm lịch sử – cụ thể về phong tục tập quán của từng thời kì lịch sử và từng địa phương.
Đã gửi đăng trên Tcđttl TranNhuongCom, PhongDiepNet, lúc 16:00, 27-7 HB10
Ở phần đầu tiểu thuyết “Ký tự chìm trên bia đá cổ” của nhà văn, bác sĩ Tố Hoài còn có một lời ngỏ của chính tác giả (sđd., tr. 5-6). Lời ngỏ ấy còn được cụ thể hóa ở một ít trang tiểu thuyết (sđd., tr. 193-205). Trong đó, chứa đựng một vấn đề “bất khả tri” thuộc về bản thân Tố Hoài và Nguyễn Phước tộc (hậu thân của Tôn nhân phủ, hiện nay đặt văn phòng tại Huế).
Trân trọng,
TXA.

14 phản hồi tới “QUANH VẤN NẠN LỊCH SỬ: KẺ CÁT CỨ HAY ANH HÙNG MỞ CÕI?”

  1. TXA. đã nói

    27.07.2010 lúc 5:11 chiều GOOGLE SEARCH:
    24 giờ qua
    Kết quả Tìm kiếm
    Ý KIẾN NGƯỜI ĐỌC & GIỚI CẦM BÚT6 phút trước đây – Điểm mạng toàn cầu của nhà thơ Trần Xuân An (địa phương TP.HCM. … Trần Xuân An. Mười hai tuổi rưởi, tôi rời xa gấu áo của mẹ và quê nhà Quảng Trị. Vì thế, …
    txawriter.wordpress.com/ – Tương tự

    QUANH VẤN NẠN LỊCH SỬ: KẺ CÁT CỨ HAY ANH HÙNG MỞ CÕI? « Ý KIẾN …26 phút trước đây – Điểm mạng toàn cầu của nhà thơ Trần Xuân An (địa phương TP.HCM. … Trần Xuân An. Mười hai tuổi rưởi, tôi rời xa gấu áo của mẹ và quê nhà Quảng Trị. Vì thế, …
    txawriter.wordpress.com/2010/07/27/ke-cat-cu-anh-hung-mo-coi/

    Bầu bạn góp cổ phần – tranhnhuong.com-Tranh tho Tran Nhuong, Hoi …11 giờ trước – 21/7/10, TỰ TÔN TIẾNG NÓI DÂN TỘC, GIỌNG NÓI QUÊ HƯƠNG, Trần Xuân An, 439. 24/7/10, HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN VỊ THÁNH TƯƠNG HIỀN MINH TRIỀU TRẦN …
    trannhuong.com/…/Bầu-bạn-góp-cổ-phần – Đã lưu trong bộ nhớ cache

    Chạm vào thu Praha – Nhà văn Xuân Đức17 giờ trước – 15/03/2010, Chùm thơ mới của Trần Xuân An, Trần Xuân An, 277. 13/03/2010, Nàng Tiên gặp quỷ dữ, Lưu Xuân Đạt, 313. 08/03/2010, Truyện không muốn đặt tên …
    xuanduc.vn/baiviet.aspx?… – Đã lưu trong bộ nhớ cache

    /
  2. TXA. đã nói

    29.07.2010 lúc 11:44 sáng Thư của ông Nguyễn Ý Kiến:
    “BẤT KHẢ TRI” TẤT “BẤT KHẢ NGÔN”, “BẤT KHẢ NGỮ”
    (“Không thể biết” thì ắt phải “không thể nói”, “không thể viết”).

    TXA. trả lời:
    Thưa ông, tôi tôn trọng lời ngỏ và mươi trang tiểu thuyết cùng vấn đề của nhà văn, bác sĩ Tố Hoài, nhưng nào dám bày tỏ ý kiến gì đâu! Trong bài viết của tôi, như ông đã đọc ở bên trên, tôi không hề đề cập đến. Chỉ khi viết xong, đã đăng tải trên điểm mạng của tôi và hai Tcđttl. TranNhuongCom, PhongDiepNet, tôi nhận được những phản hồi, tôi mới ghi thêm vài dòng cuối và ngoài bài, vô thưởng, vô phạt.
    Trân trọng,
    TXA.

    • Nguyễn Ý Kiến đã nói

      29.07.2010 lúc 3:44 chiều Tôi muốn gửi câu “xổ nho” ấy đến nhà văn, bác sĩ Tố Hoài, chứ không phải chê trách gì ông Trần Xuân An. Mong rằng ông Tố Hoài chỉ nêu vấn đề trong sách khi mọi điều đã được giám định khoa học, như tấm bia cổ ấy. Mà giám định niên đại rồi, cũng không thể kết luận! Ví dụ, tôi không có vợ bé, không có bồ bịch gì, và do đó cũng không có đứa con rơi nào, nhưng ai đó “chơi khăm” tôi bằng cách lén khoét đất mộ phần của tôi (sau khi tôi chết), chôn xuống một tấm bia đá với nội dung đại để là tôi đã “có bồ, có con rơi” thì sao? Vả lại, ngoài tấm bia đá cổ 5 thế kỷ ấy, mọi lí lẽ, chứng cứ văn tự (sử sách), chuyện kể (trong tiểu thuyết) đều không ủng hộ ông Tố Hoài. Tôn nhân phủ thời Nguyễn ghê lắm ông à…
      Ng.Y.K.
  3. Ngo Thu Le đã nói

    29.07.2010 lúc 3:24 chiều “Riêng tôi, tôi vẫn nhận thức việc ra đi khỏi đất nước đến ba triệu người sau cuộc chiến tranh thống nhất đất nước vừa qua (1954-1975) là khác hẳn với những cuộc di dân thời phong kiến, nhưng biết đâu cũng là dịp để có một Nguyễn Hoàng nơi đất Mỹ, một nước Mỹ vốn hào phóng với nạn nhân của chính Nhà nước Mỹ và của chính Vatican.”
    - Có điểm giống đấy: họ đi tìm miếng ăn và tìm tự do.
    - Đừng mơ có một Nguyễn Hoàng nơi đất Mĩ, họ chỉ là những người cắt cỏ, làm neo, đánh cá lậu… để mỗi năm đóng góp cho GDP quê nhà năm sau tăng hơn năm trước. Nhưng cái nầy thì chắc chắn, phần lớn họ đã trở thành Việt kiều yêu nước. … Không [trơ] “trẻn” chút nào khi tuyên bố họ là một “khúc ruột của quê hương”…

    • TXA. đã nói

      29.07.2010 lúc 4:14 chiều Nhà giáo Ngô Thủ Lễ quý mến,
      Trước hết, xin minh định: Mình đã tước bỏ những gì hậu thế (1954-1975) gán cho nhân vật lịch sử Nguyễn Hoàng (1525-1613) nhằm mục đích lợi dụng ông ấy như một biểu tượng chính nghĩa trong việc cát cứ, chia cắt đất nước, để trả lại Nguyễn Hoàng (1525-1613) cho chính Nguyễn Hoàng (1525-1613) với hành trạng, sự nghiệp đích thực của ông ấy trong lịch sử, thế kỉ XVI – thế kỉ XVII.
      Từ đó, mình mới mong có một Nguyễn Hoàng mới ở Mỹ hiện nay, với ý nghĩa là tạo dựng nên một CÕI BỜ VIỆT NAM HẢI NGOẠI, không mưu toan “phục quốc” gì cả. Tất nhiên, mọi so sánh đều khập khiễng, nhưng không khập khiễng đến mức biện minh cho ngoại xâm và bộ phận tả đạo trong TCG. ở việc chia cắt đất nước (1954-1975). CÕI BỜ VIỆT NAM HẢI NGOẠI thì có dính líu gì đến lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam hiện nay! Vả lại, có chính nghĩa đâu mà “phục quốc”!
      Những điều nhà giáo Ngô Thủ Lễ nói về Việt kiều cũng không phải không đúng, vì ngoài số tinh hoa, giỏi chuyên môn, khoa học – công nghệ, phần lớn còn lại là làm “neo” (nail), cắt cỏ, đánh cá lậu… Cộng đồng xã hội nào, nước nào mà chả thế! Vấn đề là phồn thịnh, không quên tiếng mẹ đẻ, không pha tạp huyết thống… Nước Mỹ mênh mông, Việt kiều xin vài chục ngàn cây số vuông (km2) để lập quốc cũng có thể mà! Đó là buộc Mỹ bồi thường chiến tranh đấy! Tây Ban Nha, Pháp, Nhật, Vatican cũng phải bồi thường chiến tranh cho cộng đồng người Việt hải ngoại bằng cách đó.
      Nhưng ấy là nói cho vui, cho phải đạo. Nhưng xem ra như thế còn dễ hơn, chính nghĩa hơn là “phục quốc”.
      Quý mến,
      TXA.

  4. TXA. đã nói

    29.07.2010 lúc 5:29 chiều Thưa quý người đọc kính mến và thân ái,
    Tôi mới hỏi một người quen thân, am hiểu kĩ về những gì đổi mới ở Quảng Trị, ngay cả những điểm đổi mới mới nhất, và tôi được biết: Trường Trung học Nguyễn Hoàng cho đến nay vẫn chưa được phục hồi, không có trường học nào ở Quảng Trị hiện nay mang tên nhân vật lịch sử Nguyễn Hoàng (1525-1613) cả.
    Nhân vật lịch sử Nguyễn Hoàng (1525-1613) chỉ mới được phục hồi trong một số bài nghiên cứu (“Kỉ yếu Hội thảo về chúa Nguyễn & vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX”, 18-19/10/2008) và trên một số sách báo mà thôi.
    Thật là đáng tiếc!
    Trân trọng,
    TXA.

  5. 29.07.2010 lúc 5:38 chiều Thư của ông (bà) Nguyễn B’Lao Đa Tẻh:
    Tôi không đồng ý với nhà văn Tố Hoài về việc ông không ghi xuất xứ các ý tưởng, sử liệu mà ông vay mượn (không tôn trọng bản quyền của người khác), không lập danh mục tài liệu tham khảo (không khoa học), mặc dù ông viết tiểu thuyết, vì lẽ, đó là tiểu thuyết lịch sử.
    Đừng giận tôi ông Tố Hoài nghe! “Nói thật mất lòng” mà!
    Mong ông tái bản sách có chỉnh sửa như tôi đã góp ý…
    Ký tên:
    Nguyễn B’Lao Đa Tẻh

    • TXA. đã nói

      29.07.2010 lúc 5:51 chiều Tôi thấy rằng việc không ghi xuất xứ ý tưởng, sử liệu có một điểm rất tai hại cho nhà văn, bác sĩ Tố Hoài: Không ai biết nhà văn Tố Hoài đã đóng góp những điểm nào cho việc tái hiện xác thực lịch sử từ Lê Uy Mục (ở ngôi: 1497-1504) cho đến Nguyễn Phúc Tần (ở ngôi: 1648-1687), kể cả những suy tưởng của riêng anh ấy.
      Tôi nghĩ rằng anh có những đóng góp xuất sắc.
      TXA.
  6. 29.07.2010 lúc 9:47 chiều Cung cấp tư liệu để bàn luận:
    “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành Sơn) và sông Gianh (Linh Giang) hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện lính để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”
    (Đại Nam thực lục, tập 1, tiền biên & chính biên, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Giáo Dục tái bản, 2002, tr. 37).
    Phải chăng từ lời trăn trối này của Nguyễn Hoàng mà có người lại diễn dịch ra rằng: Tương truyền Nguyễn Hoàng có trối dặn Nguyễn Phúc Nguyên “Nếu Bắc tiến được thì tốt nhất, bằng không giữ vững đất Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phía nam”?
    • txawriter đã nói

      29.07.2010 lúc 10:13 chiều Vâng, thưa ông Nguyễn Ý Kiến, tôi đã tra lại “Đại Nam thực lục”, tiền biên, đúng như bản sách của ông, về từng chữ và về số trang. Còn câu diễn dịch ấy chỉ là “tương truyền”, không đáng tin cậy.
      Dẫu sao cũng phải đặt nhân vật lịch sử Nguyễn Hoàng (1525-1613) trong bối cảnh lịch sử cụ thể, với kẻ đối đầu của ông ấy là chúa Trịnh!
      Ngoài ra, tôi hiểu ý ông Nguyễn Ý Kiến, là nhiều người từ mấy chục năm nay gờm ý tưởng Bắc tiến (tuy diễn dịch cũng có cơ sở), nên không phục hồi trọn vẹn danh dự cho Nguyễn Hoàng chứ gì!
      Tuy nhiên, Bắc tiến thì Bắc tiến, chứ có sao? Nguyễn Huệ Bắc tiến đấy, nhưng vẫn được đề cao. Vấn đề là Nguyễn Huệ Bắc tiến để thống nhất đất nước (chưa kể là Nguyễn Huệ còn có gốc “nông dân”, theo tiêu chí giai cấp nữa)… Do đó, lí do để Nguyễn Hoàng bị hạ bệ là cát cứ mà thôi (nếu không kể là người lập nền khai sáng vương triều Nguyễn sau này). Theo đó, không khéo cái câu “tương truyền” Bắc tiến lại là cơ sở để đề cao Nguyễn Hoàng có ý định thống nhất đất nước!
      Không có quan điểm lịch sử – cụ thể thì mọi đánh giá đều không thích đáng. Thế kỉ XVI là thế kỉ XVI, Trịnh – Nguyễn phân tranh là Trịnh – Nguyễn phân tranh (XVII-XVIII), chứ gán ghép, xiên xẹo, sợ ám chỉ giai đoạn 1954-1975 là “bất bình thường trí óc” đấy, phải không, thưa ông?
      TXA.
  7. TXA. đã nói

    31.07.2010 lúc 3:48 chiều Tư liệu “Thực lục” về NGUYỄN HOÀNG (1525-1613)
    Quốc sử quán triều Nguyễn
    ĐẠI NAM THỰC LỤC

    Tiền biên

    Bản dịch của Tổ Phiên dịch Viện Sử học
    (Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính)
    Nxb. Giáo Dục tái bản, tập 1, 2002, tr. 25-37
    Bản chữ vi tính: Google tìm kiếm: do Lãn Mã Nông Trang đăng trên điểm mạng www. tangthuvien. com .
    XIN LÃN MÃ NÔNG TRANG & WWW. TANGTHUVIEN. COM VUI LÒNG CHO PHÉP TXAWRITER. WORDPRESS. COM ĐĂNG LẠI BẢN CHỮ VI TÍNH NÀY ĐỂ PHỤC VỤ NGƯỜI ĐỌC.


    Ảnh: Bộ “Đại Nam thực lục” — Nhiếp ảnh: Trần Xuân An
    Tiền biên – Quyển I
    Thực lục về Thái tổ Gia dụ hoàng đế
    Thái tổ Triệu Cơ Thùy thống Khâm Minh Cung Ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ung Chiêu Hựu Diệu Linh Gia dụ hoàng đế, họ Nguyễn, húy Hoàng, người Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa.
    Sinh ngày Bính dần, tháng 8, mùa thu, năm ất dậu [1525] (Lê – Thống Nguyên năm thứ 4, Minh – Gia Tĩnh năm thứ 4), là con trai thứ hai của Triệu tổ Tĩnh hoàng đế; mẹ là Tĩnh hoàng hậu Nguyễn thị (con gái Nguyễn Minh Biện, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân thự vệ sự ở triều Lê).
    Tổ tiên trước là một họ có danh vọng ở Thanh Hoa.
    Ông nội là Trừng quốc công, húy là [Dụ] (1), lên 8 tuổi đã biết làm văn, 15 tuổi thông thuộc võ nghệ. Triều Hiến tông nhà Lê, làm kinh lược sứ Đà Giang, đến khi Uy Mục đế vô đạo, về Tây Kinh giúp Lê Oanh khởi binh ở Thanh Hoa, mưu việc giữ yên xã tắc. Khi Oanh lên làm vua (tức Tương Dực đế), được phong làm thái phó Trừng quốc công.
    Cha là Triệu Tổ Tĩnh hoàng đế, húy [Kim], con trưởng Trừng quốc công, đầu làm quan triều Lê, chức Hữu vệ điện tiền tướng quân, [tước] An Thanh hầu. Năm Đinh hợi [1527], Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, nhà Lê mất. Triệu Tổ giận họ Mạc tiếm nghịch, chí muốn khôi phục nhà Lê, nên dẫn con em tránh sang Ai Lao. Vua nước ấy là Sạ Đẩu cho ở Sầm Châu. Bấy giờ thu nạp hào kiệt, quân chúng có hàng mấy nghìn người, voi có ba chục thớt, bàn mưu tìm con cháu nhà Lê để lập làm vua. Năm Canh dần [1530], ông đem quân ra Thanh Hoa. Mạc Đăng Doanh (con trưởng Mạc Đăng Dung) sai tướng là Ngọc Trục (không rõ họ) chống cự, đánh nhau ở huyện Lôi Dương (nay là Thọ Xuân Thanh Hóa), Ngọc Trục thua chạy. Năm Tân mão [1531], ông đánh phá được tướng Mạc là Nguyễn Kính ở huyện Đông Sơn (Thanh Hóa), chém hơn một nghìn đầu. Khi tiến đến đò Điềm Thủy huyện Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình), lại đánh luôn mấy trận với tướng Mạc là Lê Bá Ly được to. Gặp trời mưa dầm, nước lụt lai láng, quân Mạc cho nhiều chiến thuyền tiếp nhau tiến đến, ông bèn rút quân về sách Sầm Hạ ở Ai Lao. Năm Quý tỵ [1533] ông đón con trai nhỏ của Lê Chiêu Tông là Ninh lập làm vua, lấy niên hiệu là Nguyên Hòa, tức là Trang Tông. (Khi nhà Lê mới mất, Trang Tông còn thơ ấu, bầy tôi là bọn Trịnh Duy Tuấn và Lê Lan rước tránh sang Ai Lao, ở trà trộn với nhân dân, không ai biết. Đến bấy giờ, Triệu Tổ tìm khắp nơi mới được, bèn lập làm vua). Do công ấy, được phong Thượng phụ thái sư Hưng quốc công chưởng nội ngoại sự. Bấy giờ có người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc (huyện Vĩnh Lộc bây giờ) tên là Trịnh Kiểm đến yết kiến (Kiểm sau làm tổ họ Trịnh). Triệu Tổ thấy Kiểm có vẻ lạ, mới gả con gái lớn là Ngọc Bảo cho, sai coi mã quân và xin phong cho làm tướng quân. Năm Canh tý [1540], ông đem quân đóng giữ Nghệ An, hào kiệt theo rất nhiều. Năm Nhâm dần [1542] đi tuần hành trong đất Thanh Hoa, tiếng quân lừng lẫy, xa gần đều phục. Năm Quý mão [1543] rước vua Lê tiến binh ra Tây Đô (tức là Thanh Hoa) để đánh Mạc Chính Trung (con thứ hai Mạc Đăng Dung, có tên nữa là Đăng Xương), được tấn phong Thái tể đô tướng tiết chế các dinh thủy bộ, chia đường đều tiến, đánh đâu được đấy.
    Ngày Tân tỵ, tháng 5, mùa hạ, năm ất tỵ [1545] ông bị hàng tướng Mạc [tên Trung] đầu độc. Triệu Tổ băng, thọ 78 tuổi. (Trước là nhà Mạc thấy quân nhà vua hoạt động mạnh, rất lo, ngầm sai hoạn quan là Trung (không rõ họ) trá hàng, để đầu độc vua Lê; việc không thành, nó liền ngầm cho thuốc độc vào quả dưa hấu rồi đón dâng Triệu Tổ). Vua Lê thương tiếc mãi, tặng tước Chiêu huân tĩnh công, dùng lễ hậu đem táng ở núi Thiên Tôn (thuộc huyện Tống Sơn). Tương truyền huyệt đào trúng hàm rồng, khi đặt quan tài xuống thì cửa huyệt ngậm lại, bỗng trời đổ mưa, gió sấm sét, mọi người sợ chạy. Đến lúc tạnh trở lại tìm thì đá núi liên tiếp, cỏ cây xanh tốt, không nhận được là táng nơi nào nữa. Đến nay có việc [cúng tế] thì chỉ trông núi tế vọng thôi. Năm Minh Mệnh thứ 2, phong núi ấy là núi Triệu Tường). Thời quốc sơ chúa (1) tôn thụy hiệu (2) là Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương. Thế Tôn Hiếu Vũ Hoàng Đế (1) lại truy tôn [Nguyễn Kim] làm Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương, và truy tôn phi là Từ Tín Chiêu ý Đức phi. Gia Long năm thứ 5 lại truy tôn là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế, miếu hiệu (2) là Triệu Tổ, lăng gọi là Trường Nguyên, và truy tôn phi là Từ Tín Chiêu ý Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh hoàng hậu. (Tương truyền phi hợp táng với Triệu Tổ).
    Chúa (3) tướng vai lân, lưng hổ, mắt phượng, trán rồng, thần thái khôi ngô, thông minh tài trí, người thức giả đều biết là bực phi thường.
    Khi Triệu Tổ tránh họ Mạc, chạy sang Ai Lao thì chúa mới lên 2 tuổi, gửi nuôi ở nhà thái phó Nguyễn Ư Dĩ (tên tự là Vô Sự, bấy giờ gọi là Uy quốc công, anh ruột của Tĩnh hoàng hậu), Ư Dĩ hết lòng bảo hộ, khi đã lớn, thường đem chuyện xây dựng công nghiệp để khuyến khích. Đầu làm quan ở triều Lê, được phong là Hạ Khê hầu. Đem quân đánh Mạc Phúc Hải (con trưởng Mạc Đăng Doanh), chém được tướng là Trịnh Chí ở huyện Ngọc Sơn, khi khải hoàn vua yên ủy khen rằng: “thực là cha hổ sinh con hổ”.
    Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trung Tông, do quân công được tiến phong Đoan quận công. Bấy giờ Hữu tướng triều Lê là Trịnh Kiểm (bấy giờ xưng là Lượng quốc công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc. Tả tướng là Lãng quận công Uông (con trưởng Triệu Tổ) bị Kiểm hãm hại. Kiểm lại thấy chúa công danh ngày càng cao nên rất ghét. Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ rồi cáo bệnh, cốt giữ mình kín đáo để họ Trịnh hết ngờ.
    Chúa nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi. Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân ngâm lớn rằng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” [nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được]. Sứ giả đem câu ấy về thuật lại. Chúa hiểu ý. Bấy giờ xứ Thuận Hóa mới dẹp yên, tuy nhà Lê đã đặt tam ty (Đô ty, Thừa ty, Hiến ty) và phủ huyện để cai trị, nhưng nhân dân vẫn chưa một lòng. Kiểm đương lấy làm lo. Chúa mới nhờ chị là Ngọc Bảo nói với Kiểm để xin vào trấn đất Thuận Hóa. Kiểm thấy đất ấy hiểm nghèo xa xôi cho ngay. Anh Tông lên ngôi, Kiểm dâng biểu nói: “Thuận Hóa là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài trấn thủ vỗ yên thì không thể xong. Đoan quận công là con nhà tướng, có tài trí mưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy, để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam”. Vua Lê nghe theo và trao cho chúa trấn tiết (1), phàm mọi việc đều ủy thác cả, chỉ mỗi năm nộp thuế mà thôi.
    Mậu ngọ, năm thứ 1 [1558] (Lê – Chính Trị năm 1, Minh – Gia Tĩnh năm 37), mùa đông, tháng 10, chúa bắt đầu vào trấn Thuận Hóa, 34 tuổi. Những người bộ khúc đồng hương ở Tống Sơn và những người nghĩa dũng xứ Thanh Hoa đều vui lòng theo đi. Dựng dinh ở xã Ái Tử (thuộc huyện Vũ Xương, tức nay là Đăng Xương) (2). Phàm quan lại tam ty do nhà Lê đặt đều theo lệnh của chúa.
    Chúa vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, bấy giờ thường xưng là chúa Tiên. Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy.
    Kỷ mùi, năm thứ 2 [1559], mùa thu tháng 8, Thanh Hoa và Nghệ An bị lụt, dân lưu tán nhiều vào miền Nam.
    Bấy giờ mọi việc bắt đầu. Chúa khuya sớm chăm lo, nghĩ việc củng cố căn bản. Nguyễn Ư Dĩ cùng bọn Tống Phước Trị (bấy giờ gọi là Luân quận công), Mạc Cảnh Huống cùng lòng hợp sức, quy hoạch nhiều phương, chúa đều thành thực tin dùng.
    Canh thân, năm thứ 3 [1560], mùa đông, đặt đồn cửa biển giữ miền duyên hải (bấy giờ quân Mạc thường theo đường biển vào cướp Thanh Nghệ nên phải đề phòng).
    Tân dậu, năm thứ 4 [1561].
    Nhâm tuất, năm thứ 5 [1562].
    Quý hợi, năm thứ 6 [1563], mùa thu, tháng 7, ngày Giáp thìn, sinh hoàng tử thứ sáu (tức Hy tông Hiếu Văn hoàng đế).
    Giáp tý, năm thứ 7 [1564].
    Ất sửu, năm thứ 8 [1565].
    Bính dần, năm thứ 9 [1566].
    Đinh mão, năm thứ 10 [1567] (Lê – Chính Trị năm 10, Minh – Long Khánh năm 1).
    Mậu thìn, năm thứ 11 [1568], mùa xuân, tháng 3, Tổng trấn Quảng Nam là Bùi Tá Hán (bấy giờ xưng là Trấn quận công) chết. Vua Lê lấy Nguyễn Bá Quýnh (bấy giờ xưng là Nguyên quận công) làm Tổng binh, thay giữ đất ấy.
    Kỷ tỵ, năm thứ 12 [1569], mùa thu, tháng 9, chúa đi Thanh Hoa, yết kiến vua Lê ở hành cung Khoa Trường.
    Canh ngọ, năm thứ 13 [1570] mùa xuân, tháng giêng, chúa từ Tây Đô về, dời dinh sang xã Trà Bát(xem cước chú cuối trang). (thuộc huyện Đăng Xương)
    Vua Lê triệu tổng binh Quảng Nam là Nguyễn Bá Quỳnh về trấn thủ Nghệ An. Chúa bèn kiêm lãnh hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam.
    Thuận Hóa có 2 phủ, 9 huyện, 3 châu. Phủ Tiên Bình (xưa là Tân Bình), lĩnh 3 huyện: Khang Lộc, Lệ Thủy, Minh Linh, 1 châu: Bố Chánh; phủ Triệu Phong, lĩnh 6 huyện: Vũ Xương, Hải Lăng, Quảng Điền (xưa là Đan Điền), Hương Trà (xưa là Kim Trà), Phú Vang (xưa là Tư Vang), Điện Bàn, 2 châu: Thuận Bình, Sa Bồn. Quảng Nam có 3 phủ, 9 huyện. Phủ Thăng Hoa, lĩnh 3 huyện: Lê Giang, Hà Đông, Hy Giang; phủ Tư Nghĩa lĩnh 3 huyện : Bình Sơn, Mộ Hoa, Nghĩa Giang; phủ Hoài Nhân, lĩnh 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn. Đeo ấn tổng trấn tướng quân, đặt quân hiệu là dinh Hùng Nghĩa.
    Bấy giờ Mạc Mậu Hợp sai tướng là bọn Kính Điển đem quân xâm lấn Thanh Nghệ. Tướng trấn thủ Nghệ An Nguyễn Bá Quýnh nghe tin trốn chạy, thế giặc hung tợn, lòng dân xao xuyến. Chúa vốn có uy danh, nhiều mưu lược, kỷ luật rõ ràng, phòng giữ nghiêm ngặt, do đó quân giặc không dám phạm vào bờ cõi, nên riêng hai xứ Thuận Quảng được yên ổn.
    Tháng 2, Trịnh Kiểm nhà Lê chết. Con thứ là Tùng (con của Ngọc Bảo) được nối. Chúa sai sứ đến viếng.
    Tân mùi, năm thứ 14 [1571], mùa thu, tháng 7, người huyện Khang Lộc (tức Phong Lộc bây giờ) (1) tên là Mỹ Lương, Văn Lan và Nghĩa Sơn (đều không rõ họ) nổi loạn, đánh dẹp yên. Trước là Mỹ Lương cùng em là Văn Lang và Nghĩa Sơn đều tiến thóc được làm quan, chuyên việc thu tô thuế có công. Nhà Lê phong Mỹ Lương làm tham đốc, Văn Lan, Nghĩa Sơn làm thự vệ. Trịnh Kiểm nhân mật sai họ đánh úp dinh Vũ Xương, hẹn nếu thành công sẽ trọng thưởng. Tới đấy, Mỹ Lương sai Văn Lang và Nghĩa Sơn đem quân phục ở huyện Minh Linh (1) rồi tự mình dẫn quân lẻn theo đường núi đến chỗ Cầu Ngói ở Hải Lăng mai phục, định ngày giáp đánh. (có thuyết nói khi binh thuyền Mạc cướp Nghệ An thì Thuận Hóa xao xuyến, bọn Mỹ Lương mưu đánh úp Vũ Xương để hàng Mạc).
    Chúa biết được mưu ấy, liền sai phó tướng Trương Trà (bấy giờ xưng là Trà quận công) đánh Nghĩa Sơn, và tự đem quân ngầm đến Cầu Ngói đánh úp Mỹ Lương và đốt trại. Mỹ Lương trốn chạy, đuổi chém được. Trà tiến quân đến xã Phúc Thị, đánh nhau với giặc, bị Nghĩa Sơn bắn chết. Vợ Trà là Trần thị (người xã Diêm Trường) nghe tin nổi giận, mặc quần áo đàn ông thúc quân đánh, bắn chết Nghĩa Sơn tại trận. Quân Văn Lan thua, trốn về với Trịnh. [Thế là] dẹp hết đảng giặc. Chúa đem quân về. Phong Trần thị làm quận phu nhân.
    Bấy giờ Quảng Nam cũng có bọn thổ mục nổi loạn, cướp giết lẫn nhau. Chúa sai thuộc tướng là Mai Đình Dũng dẹp yên, nhân đấy, sai ở lại giữ đất để thu phục vỗ yên tàn quân.
    Nhâm thân, năm thứ 15 [1572] (Lê – Hồng Phúc năm 1, Minh – Long Khánh 6), mùa xuân, tháng giêng, vua Lê đổi niên hiệu là Hồng Phúc.
    Mùa thu, tháng 7, tướng Mạc là Lập Bạo (không rõ họ, tự xưng quận công) lấy người ở châu Bắc Bố Chính (nay là huyện Bình Chính) (2) dẫn đường đem 60 binh thuyền vượt biển vào đánh cướp, đóng trại từ con đường xã Hồ Xá đến đền Thanh Tương xã Lãng Uyển. Thế giặc đang mạnh. Chúa đem quân chống giữ, đóng ở sông ái Tử, đêm nghe từ lòng sông có tiếng kêu “trao trao”, lấy làm lạ. Khấn rằng: “Thần sông có thiêng thì giúp ta đánh giặc”. Đêm ấy, chúa ngủ mộng thấy một người đàn bà mặc áo xanh, tay cầm quạt the, đến trước trình rằng: “Minh công muốn trừ giặc thì nên dùng mỹ kế dụ đến bãi cát, thiếp xin giúp sức!”. Tỉnh dậy, chúa ngẫm nghĩ rằng: “Người đàn bà trong mộng báo ta nên dùng “mỹ kế”, phải chăng là dùng kế mỹ nhân ?”. Trong đám thị nữ có Ngô thị (tên gọi là Ngọc Lâm, người làng Thế Lại, có tên nữa là Thị Trà) có sắc đẹp, và mưu cơ biện bác. Chúa sai nàng đem vàng lụa đi dụ Lập Bạo tới chỗ sông có tiếng kêu “trao trao” để giết. Ngô thị đến trại Lập Bạo nói rằng: “Chúa công thiếp nghe tin tướng công ở xa đến, cho thiếp mang quà mọn đến để cùng giảng hòa, đừng đánh nhau nữa”. Lập Bạo thích sắc đẹp của Ngô thị, nhưng giả cách giận, nói rằng: “Người lại đây làm mồi dử ta phải chăng ?”. Ngô thị uyển chuyển thưa gửi, Lập Bạo liền tin, và giữ lại trong trướng. Ngô thị nhân đấy, mời Lập Bạo đến bờ sông để cùng chúa họp thề. Lập Bạo nghe lời. Ngô thị đem việc ấy mật báo trước. Chúa lập tức dựng một ngôi đền tranh ở bên bờ sông, chỗ có tiếng kêu “trao trao”, để làm nơi họp thề, và đào hầm đặt phục binh. Đến hẹn, Lập Bạo cùng Ngô thị ngồi thuyền nhỏ, chỉ vài chục người theo hầu. Khi đến bến, thấy dưới cờ chúa cũng chỉ có vài chục người thôi, Lập Bạo thản nhiên không ngờ, bèn lên bờ thong thả bước đến cửa đền. Thình lình phục binh nổi dậy. Lập Bạo sợ chạy xuống thuyền, thuyền đã xa bãi rồi. Lập Bạo nhảy theo, rơi xuống nước, quân ta bắn chết ngay, rồi thừa thắng tiến đến trại Thanh Tương. Gió to nổi lên, thuyền giặc đắm hết. Quân giặc đem nhau đầu hàng, chúa cho ở đất Cồn Tiên (1) (tức tổng Bái Ân bây giờ) đặt làm 36 phường. Chúa đem quân về, thưởng công cho Ngô thị, gọi phó đoán sự vệ Thiên võ là Vũ Doãn Trung gả cho. Lại phong thần sông làm “Trảo trảo linh thu phổ trạch tướng hựu phu nhân”, và lập đền thờ.
    Mùa đông, tháng 11, sai sứ về Tây Đô báo tin thắng trận. Vua Lê sai Phan Công Tích (bấy giờ xưng là Lai quận công) đến ủy lạo tướng sĩ. Chúa cùng [sứ giả] yến tiệc rất vui, khi sứ về lại tặng rất hậu.
    Bấy giờ chúa ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều yên cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn.
    Quý dậu, năm thứ 16 [1573] (Lê – Gia Thái năm thứ 1, Minh – Vạn Lịch năm 1), mùa xuân, tháng giêng, vua Lê bị Trịnh Tùng bắt phải thắt cổ chết ở Lôi Dương, lập người con thứ là Duy Đàm làm vua, đổi niên hiệu là Gia Thái, tức là Thế tông. Từ đấy Tùng ngày càng lấn quyền, vua Lê gia phong cho tước vương, sau thành thế tập.
    Tháng 2, vua Lê sai sứ đem sắc tấn phong chúa làm thái phó, khiến trữ thóc để sẵn lương ở biên giới, còn số tiền sai dư (2) thì hàng năm nộp thay bằng 400 cân bạc và 500 tấm lụa.
    Giáp tuất, năm thứ 17 [1574]
    Ất hợi, năm thứ 18 [1575]
    Bính tý, năm thứ 19 [1576], mùa hạ, tháng 4, hoàng tử cả là Hà mất, tặng Thái bảo Hòa quận công.
    Đinh sửu, năm thứ 12 [1577], mùa đông, tháng 11, sao chổi xuất hiện ở đông nam. Vua Lê đổi niên hiệu là Quang Hưng.
    Mậu dần, năm thứ 21 [1578] (Lê – Quang Hưng năm 1, Minh – Vạn Lịch năm 6)
    Kỷ mão, năm thứ 22 [1579]
    Canh thìn, năm thứ 23 [1580]
    Tân tỵ, năm thứ 24 [1581]
    Nhâm ngọ, năm thứ 25 [1582]
    Quý mùi, năm thứ 26 [1583]
    Giáp thân, năm thứ 27 [1584]
    Ất dậu, năm thứ 28 [1585], bấy giờ có tướng giặc nước Tây Dương hiệu là Hiển Quý (Hiển Quý là tên hiệu của bọn tù trưởng phiên, không phải là tên người) đi 5 chiếc thuyền lớn, đến đậu ở Cửa Việt để cướp bóc ven biển. Chúa sai hoàng tử thứ sáu lĩnh hơn 10 chiếc thuyền, tiến thẳng đến cửa biển, đánh tan 2 chiếc thuyền giặc. Hiển Quý sợ chạy.
    Chúa cả mừng nói rằng: “Con ta thực là anh kiệt”, và thưởng cho rất hậu. Từ đó giặc biển im hơi.
    Bính tuất, năm thứ 29 [1586], mùa xuân, tháng 3, vua Lê sai Hiến sát sứ là Nguyễn Tạo đến khám những ruộng đất hiện cày cấy để thu thuế. (Bấy giờ thuế ruộng hai xứ Thuận Quảng chưa có định ngạch, mỗi năm gặt xong, sai người chiếu theo số ruộng đất hiện cấy mà thu thuế thôi). Khi Tạo đến, chúa lấy lòng thành tiếp đãi. Tạo rất cảm phục, rồi không đi khám đạc nữa, cho các phủ huyện tự làm sổ, sổ làm xong rồi đem về.
    Đinh hợi, năm thứ 30 [1587], mùa thu, tháng 9, ngày mồng 1, có nhật thực.
    Mậu tý, năm thứ 31 [1588].
    Kỷ sửu, năm thứ 32 [1589]. Bấy giờ mấy năm được mùa luôn, trăm họ giầu thịnh. Vua Lê thì liền năm đánh dẹp, quân dụng không đủ. Chúa xuống lệnh thu thuế cho đi giúp quân phí, chưa từng để thiếu thốn. Tây Đô được nhờ vào đấy.
    Canh dần, năm thứ 33 [1590], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, có nhật thực.
    Tân mão, năm thứ 34 [1591].
    Nhâm thìn, năm thứ 35 [1592], mùa thu, tháng giêng, vua Lê sai Trịnh Tùng cử đại quân đi đánh Mạc Mậu Hợp (con Mạc Nguyên), lấy lại được Đông Đô (tức Hà Nội bây giờ).
    Tháng 5, chúa đem binh quyền [ra Đông Đô] yết kiến. Vua Lê yên ủi rằng: “Ông trấn thủ hai xứ, dân nhờ được yên, công ấy rất lớn”. Liền phong làm Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự thái úy Đoan quốc công.
    Chúa trở về Thanh Hoa, yết cáo tôn lăng.
    Bấy giờ tướng Mạc là Kiến và Nghĩa (hai người đều không rõ họ, tự xưng quận công) đều tụ họp có tới mấy vạn quân, Kiến chiếm giữ phủ Kiến Xương, đắp lũy đất ở bên sông, Nghĩa chiếm giữ huyện Thanh Lan (nay là huyện Thanh Quan), cắm cọc gỗ ở sông Hoàng Giang để chống cự nhà Lê. Tướng nhà Lê là Bùi Văn Khuê và Trần Bách Niên đánh không được. Chúa đốc suất tướng sĩ bản dinh, thống lãnh chiến thuyền của thủy quân các xứ nối tiến, dùng hỏa khí và đại bác đánh phá tan, chém được Kiến và Nghĩa tại trận, bắt sống, chém chết hàng vạn. Trấn Sơn Nam (nay là Nam Định) được dẹp xong. Mạc Kính Chương (tự xưng Tráng vương) lại cùng đồ đảng chiếm giữ Hải Dương. Chúa dời quân sang đánh dẹp được, bắt sống không xiết kể.
    Trước kia, trong chiến dịch Sơn Nam, hoàng tử thứ hai là Hán (làm quan triều Lê, có quân công được làm Tả đô đốc Lỵ quân công) theo chúa đi đánh giặc, ra sức đánh, mất tại trận. Vua Lê truy tặng tước Lỵ Nhân công (có thuyết là Lỵ Trung công) (năm Gia Long thứ 2 cho được tòng tự ở Nguyên miếu), cho con là Hắc được tập ấm, sau làm quan đến thái phó. (Con cháu ở Thanh Hoa, dòng dõi rất phồn thịnh. Năm Gia Long thứ 1, cho hệ tính là Nguyễn Hựu).
    Giáp ngọ, năm thứ 37 [1594], mùa hạ, tháng 5, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ núi Yên Tử, đánh cướp huyện Vĩnh Lại. Chúa đem thủy quân tiến đến Hải Dương đánh phá được. Ngọc Liễn thua chạy, chết ở châu Vạn Ninh.
    Mùa thu, tháng 9, Mạc Kính Dụng (tự xưng Uy vương) sai người đảng là Văn và Xuân (hai người đều không rõ tên họ, tự xưng quốc công) đánh úp Thái Nguyên.
    Chúa đem đại binh đánh quân Mạc ở huyện Võ Nhai, dẹp yên.
    Mùa đông, tháng 10, tướng làm phản nhà Lê là Vũ Đức Cung cướp phá các huyện thuộc Sơn Tây, và lùa những cư dân hai huyện Đông Lan và Tây Lan (nay là Hùng Quan và Tây Quan) vào đất Đại Đồng. Chúa lĩnh thủy quân cùng Thái úy nhà Lê là Nguyễn Hữu Liêu dẫn bộ binh cùng tiến, thẳng tới Đại Đồng, giáp đánh phá được. Đức Cung chạy đến đất Nghĩa Đô. Chúa dẫn quân về.
    Ất mùi, năm thứ 38 [1595], mùa xuân, tháng 3 nhà Lê thi tiến sĩ, chúa làm đề điệu, lấy được 6 người hợp cách là bọn Nguyễn Viết Tráng.
    Bính thân, năm thứ 39 [1596], mùa hạ, tháng 4, chúa theo hầu vua Lê đi Lạng Sơn. Trước là Mạc Kính Dụng chạy sang Long Châu nước Minh, vu cáo với nhà Minh rằng hiện nay người xưng là vua Lê tức là người họ Trịnh chứ không phải con cháu nhà Lê. Người Minh tin lời, sai án sát ty phó sứ Tả giang binh tuần đạo là Trần Đôn Lâm sang Trấn Nam quan, đưa thư hẹn hội khám. Vua Lê trước sai bọn thị lang Phùng Khắc Khoan đem hai quả ấn mực cũ, 100 cân vàng, 1.000 lạng bạc, cùng vài chục kỳ lão trong nước cùng đến cửa quan. Trần Đôn Lâm lại đưa điệp đòi vua Lê hẹn ngày đến cửa quan. Nhưng khi vua Lê đến thì sứ nhà Minh thác cớ không đến đúng hẹn. Chúa bèn hầu vua Lê trở về.
    Đinh dậu, năm thứ 40 [1597] mùa xuân, tháng 2, nhà Minh lại sai ủy quan là Vương Kiến Lập đến cửa quan báo tin để hội khám. Chúa lại theo hầu vua Lê đến cửa quan, cùng với Vương Kiến Lập và Trấn Đôn Lâm làm lễ giao tiếp hội khám, gặp nhau rất vui vẻ. Từ đấy Bắc Nam lại thông hiếu.
    Mùa đông, tháng 11, thổ phỉ Hải Dương là bọn Thủy, Lễ, Quỳnh, Thụy (đều không rõ họ, tự xưng quận công) kết bè đảng mấy nghìn, đánh úp giết tướng trấn thủ, cướp phá các huyện thủy Đường, Nghi Dương và Tiên Minh. Hoàng tử thứ tư là Diễn (có tên nữa là Miện, làm quan triều Lê, chức Tả đô đốc Hào quận công) cùng tướng nhà Lê là Bùi Văn Khuê và Phan Ngạn lĩnh 50 binh thuyền đến đánh ở sông Hổ Mang. Diễn đem 4 chiếc binh thuyền bản bộ vào trước xông lên đánh, mất tại trận. Vua Lê truy tặng Thái phó.
    Mậu tuất, năm thứ 41 [1598], mùa xuân, tháng 3, chúa đem thủy quân đánh dẹp Hải Dương, phá tan quân thổ phỉ ở dãy núi Thủy Đường, bắt được đồ đảng giặc đem về.
    Kỷ hợi, năm thứ 42 [1599], mùa thu, tháng 8, vua Lê băng. Con thứ là Duy Tân lên ngôi, đổi niên hiệu là Thận Đức, tức là Kính tông. Tấn phong chúa làm Hữu tướng.
    Canh tý, năm thứ 43 [1600] (Lê – Thận Đức năm 1, mùa đông, tháng 11, đổi kỷ nguyên là Hoằng Định; Minh – Vạn Lịch năm 28), mùa hạ, tháng 5, chúa từ Đông Đô trở về. Bấy giờ chúa đã ở Đông Đô 8 năm, đánh dẹp bốn phương đều thắng, vì có công to, nên họ Trịnh ghét. Gặp lúc bọn tướng Lê là Phan Ngạn, Ngô Đình Nga và Bùi Văn Khuê làm phản ở cửa Đại An (nay thuộc Nam Định), chúa nhân dịp đem quân tiến đánh, liền đem cả tướng sĩ thuyền ghe bản bộ, đi đường biển thẳng về Thuận Hóa, để hoàng tử thứ năm là Hải và hoàng tôn là Hắc ở lại làm con tin. Nghe tin ấy, lòng dân xao xuyến. Trịnh Tùng ngờ chúa vào chiếm Tây Đô, bèn đưa vua Lê chạy về Tây Đô, để giữ vững căn bản. Đi đến huyện An Sơn, bọn hoàng tử Hải đón đường nói rằng chúa về Thuận Hóa, chỉ nghĩ việc bảo vệ đất đai, thực không có ý gì khác. Vua Lê vỗ về, vẫn cho bọn Hải quản binh như cũ. Chẳng bao lâu vua Lê lại về Đông Đô.
    Chúa đến Thuận Hóa, cho dời dinh sang phía đông dinh Ái Tử (bấy giờ gọi là Dinh Cát). Vua Lê sai Thiêm đô ngự sử là Lê Nghĩa Trạch đem sắc đến phủ dụ, vẫn sai ở lại trấn thủ, hằng năm nộp thuế má. Trịnh Tùng cũng gửi kèm thư, khuyên giữ việc thuế cống. Chúa hậu đãi sứ giả và sai sứ đi tạ ơn vua Lê; lại gửi thư cho Trịnh Tùng hẹn kết nghĩa thông gia.
    Mùa đông, tháng 10, chúa gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con cả Trịnh Tùng). Từ đấy chúa không ra Đông Đô nữa. Triều thần nhà Lê thường thường nói nên xử trí, nhưng Trịnh Tùng sợ việc dùng binh, không dám đả động.
    Tân sửu, năm thứ 44 [1601], mùa hạ, tháng 6 đặt kho thóc Thuận Hóa.
    Bắt đầu dựng chùa Thiên Mụ. Bấy giờ chúa dạo xem hình thế núi sông, thấy trên cánh đồng bằng ở xã Hà Khê (thuộc huyện Hương Trà) giữa đồng bằng nổi lên một gò cao, như hình đầu rồng quay lại, phía trước thì nhìn ra sông lớn, phía sau thì có hồ rộng, cảnh trí rất đẹp. Nhân thế hỏi chuyện người địa phương, họ đều nói rằng gò này rất thiêng, tục truyền rằng: Xưa có người đêm thấy bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên đỉnh gò nói rằng : “Sẽ có vị chân chúa đến xây chùa ở đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch”. Nói xong bà già biến mất. Bấy giờ nhân đấy mới gọi là núi Thiên Mụ. Chúa cho là núi ấy có linh khí, mới dựng chùa gọi là chùa Thiên Mụ.
    Mùa thu, tháng 7, ngày Tân hợi, sinh hoàng tôn (tức Thần tông Hiếu chiêu hoàng đế).
    Nhâm dần, năm thứ 45 [1602], mùa thu, tháng 7, sửa chùa Sùng Hóa. Chúa nhân tiết Trung nguyên đến chơi chùa Thiên Mụ, lập đàn chay làm lễ bố thí. Khi thuyền qua sông xã Triêm Ân (thuộc huyện Phú Vang), nhìn bờ sông phía đông – bắc, cây cối um tùm, chim chóc tấp nập, xem rất thích, chúa cho dừng thuyền ngắm xem. Nhận thấy chỗ ấy có nền chùa cổ, liền sai sửa lại, gọi là chùa Sùng Hóa.
    Sai hoàng tử thứ sáu làm trấn thủ dinh Quảng Nam. Quảng Nam đất tốt dân đông, sản vật giàu có, số thuế nộp vào nhiều hơn Thuận Hóa mà số quân thì cũng bằng quá nửa. Chúa thường để ý kinh dinh đất này. Đến đây, đi chơi núi Hải Vân, thấy một dải núi cao dăng dài mấy trăm dặm nằm ngang đến bờ biển. Chúa khen rằng: “Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng”. Liền vượt qua núi xem xét hình thế, dựng trấn dinh ở xã Cần Húc (thuộc huyện Duy Xuyên), xây kho tàng, chứa lương thực, sai hoàng tử thứ sáu trấn giữ. Lại dựng chùa Long Hưng ở phía đông trấn.
    Bây giờ khám lý phủ Hoài Nhân (nay thuộc Bình Định) là Trần Đức Hòa (bấy giờ gọi là Cống quận công, là con Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân, phó tướng dinh Quảng Nam) đến yết kiến, chúa đãi rất hậu. Rồi trở về Thuận Hóa.
    Năm ấy nước Chiêm Thành sang thông hiếu.
    Quý mão, năm thứ 46 [1603], mùa xuân, tháng 3, trong mặt trăng có ba điểm đen.
    Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, có nhật thực.
    Giáp thìn, năm thứ 47 [1604], lấy huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong đặt làm phủ Điện Bàn, quản 5 huyện (Tân Phúc, An Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, Phú Châu), lệ thuộc vào xứ Quảng Nam. Đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình, phủ Tư Ngãi làm phủ Quảng Ngãi, huyện Lê Giang thuộc phủ Thăng Hoa (nay đổi làm Thăng Bình) làm huyện Lễ Dương, huyện Hy Giang làm huyện Duy Xuyên.
    Ất tỵ, năm thứ 48 [1605].
    Bính ngọ, năm 49 [1606].
    Đinh mùi, năm thứ 50 [1607], dựng chùa Bảo Châu ở Trà Kiệu (thuộc Quảng Nam).
    Mậu thân, năm thứ 51 [1608], được mùa to, mỗi đấu gạo giá 3 đồng tiền. Bấy giờ từ Nghệ An ra Bắc bị đại hạn, giá gạo đắt, nhiều dân xiêu dạt chạy về [với chúa].
    Kỷ dậu, năm thứ 52 [1609], dựng chùa Kính Thiên ở phường Thuận Trạch (thuộc huyện Lệ Thủy, Quảng Bình; năm Minh Mệnh thứ 7 đổi làm chùa Hoằng Phúc).
    Canh tuất, năm thứ 53 [1610].
    Tân hợi, năm thứ 54 [1611], bắt đầu đặt phủ Phú Yên. Bấy giờ quân Chiêm Thành xâm lấn biên giới. Chúa sai chủ sự là Văn Phong (không rõ họ) đem quân đi đánh lấy được [đất ấy], bèn đặt làm một phủ, cho hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa lệ thuộc vào. Nhân sai Văn Phong làm lưu thủ đất ấy.
    Nhâm tý, năm thứ 55 [1612].
    Quý sửu, năm thứ 56 [1613], mùa hạ, tháng 5, ngày Mậu ngọ, chúa không được khỏe, triệu hoàng tử thứ sáu tự Quảng Nam vào hầu.
    Tháng 6 ngày Canh dần, chúa yếu mệt, triệu hoàng tử thứ sáu và thân thần đến trước đền trước giường, bảo thân thần rằng: “Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng lên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông nên cùng lòng giúp đỡ, cho thành công nghiệp”. Rồi chúa cầm tay hoàng tử thứ sáu dặn bảo rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; anh em trước hết phải thân yêu nhau. Mày mà giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì”. Lại nói: “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Gianh [Linh Giang] hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia [Thạch Bi sơn] vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”. Hoàng tử thứ sáu và các thân thần khóc lạy vâng mệnh. Ngày ấy chúa băng. ở ngôi 56 năm, thọ 89 tuổi. Đầu thì yên táng ở núi Thạch Hãn (xã thuộc huyện Hải Lăng), sau cải táng ở núi La Khê (xã thuộc huyện Hương Trà) (năm Minh Mệnh thứ 2, phong núi ấy làm núi Khải Vận). Thời quốc sơ thì dâng thụy hiệu là Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia dụ vương. Thế tông Hiếu vũ hoàng đế truy tôn là Liệt tổ Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia dụ thái vương và truy tôn phi là Từ Lương Quang Thục ý phi. Năm Gia Long thứ 5, truy tôn là Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia dụ hoàng đế, miếu hiệu là Thái tổ, lăng gọi là Trường Cơ; truy tôn phi là Từ Lương Quang Thục Minh Đức ý Cung Gia dụ hoàng hậu, lăng gọi là Vĩnh Cơ.
    Chú thích:
    Sđd., tr. 25: 1. Có thuyết cho rằng An Hòa bá Nguyễn Hoằng Dụ sinh ra Nguyễn Kim (Đại Việt sử ký toàn thư) (*).
    (*) Theo nhiều nguồn và chủ yếu theo Đinh Công Vỹ, người khảo cứu 7 nguồn gia phả họ Nguyễn khác nhau, và viết trong sách ‘‘Nhìn lại lịch sử’’ (Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, sách đã dẫn, tr. 803-805), thì Nguyễn Văn Lưu và Nguyễn Văn Lang là hai anh em chú bác (cùng một ông nội là ông Nguyễn Công Duẩn). Thân phụ của Nguyễn Kim (Nguyễn Cam [hay Câm, đọc là Kim]) là Nguyễn Văn Lưu; còn Nguyễn Hoằng Dụ (con trai của Nguyễn Văn Lang) chỉ là anh em chú bác lại của Nguyễn Kim. —– (TXA. chua thêm, theo Wikipedia, mục từ “Chúa Nguyễn”…v.v…).
    Sđd., tr. 26: 1. Chữ Hán là thượng, chỉ Nguyễn Hoàng.
    Sđd., tr. 26: 2. Thụy: tên đặt để thờ cúng.
    Sđd., tr. 27: 1. Tức là Phúc Khoát (1739 – 1756).
    Sđd., tr. 27: 2. Hiệu đặt cho các vua đã chết để thờ ở tôn miếu.
    Sđd., tr. 27: 3. Chúa, chỉ Nguyễn Hoàng.
    Sđd., tr. 28: 1. Trấn tiết: Cờ tiết vua giao cho làm huy hiệu của quyền trấn thủ.
    Sđd., tr. 28: 2. Nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
    Sđd., tr. 29: 1. Hiện nay là huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
    Sđd., tr. 30: 1. Nay là huyện Do Linh, tỉnh Quảng Trị.
    Sđd., tr. 30: 2. Nay là huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
    Sđd., tr. 31: 1. ở gần cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị.
    Sđd., tr. 31: 2. Tiền thuế thân, ngoài sự gánh vác sai dịch còn phải nộp.
    __________________________
    QUẢNG TRỊ, MẢNH ĐẤT THỦ PHỦ ĐẦU TIÊN CỦA ĐÀNG TRONG
    – Lập dinh lần 1: Ái Tử (1558-1570)
    – Dời dinh và lập dinh lần 2: Trà Bát (1570-1600)
    – Dời dinh và lập dinh lần 3: Dinh Cát, phía đông dinh cũ Ái Tử (1600-1626 [?]). Theo ĐNTL.TB., sđd., Dinh Chúa Nguyễn vẫn đóng tại đây cho đến khi dời vào Phước Yên, Quảng Điền, Thừa Thiên vào năm 1626.

    Trà Bát: Dinh Trà Bát, thủ phủ Đàng Trong thời Nguyễn Hoàng, nay thuộc địa phận làng Trà Liên, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

    Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đóng đô ở Quảng Trị trong quãng thời gian 68 năm (1558-1626).
    1626, Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi) mới dời dinh chúa từ Quảng Trị vào Phước Yên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (xem ĐNTL.TB., sđd., tr. 42).

    Tham khảo thêm ở Cinet (Chưa chính xác ở một vài chi tiết)
  8. 02.08.2010 lúc 7:56 chiều [...] QUANH VẤN NẠN LỊCH SỬ: KẺ CÁT CỨ HAY ANH HÙNG MỞ CÕI? [...]
  9. TXA. đã nói

    04.08.2010 lúc 9:42 sáng XỨ THUẬN HÓA TRƯỚC KHI NGUYỄN HOÀNG VÀO TRẤN NHẬM (1558), CÓ THỂ BIẾT ĐẠI THỂ QUA “Ô CHÂU CẬN LỤC” (1555 …):

    Ô CHÂU CẬN LỤC
    Dương Văn An bổ cứu, nhuận sắc & tục biên (năm 1555)
    Bản dịch & chú giải: Văn Thanh, Phan Đăng
    Nxb. Chính trị quốc gia, 2009



    Ô CHÂU CẬN LỤC
    Dương Văn An nhuận sắc & tập thành (năm 1555)
    Bản dịch & chú giải (tân dịch hiệu chú): Trần Đại Vinh & Hoàng Văn Phúc
    Nxb. Thuận Hóa, 2001