HẢI ĐƯỜNG
Trong
Châu bản Triều Nguyễn, từ năm 1830 – 1847 thuộc các triều Minh Mệnh
(1820 – 1840) và Thiệu Trị (1841 – 1847) hiện còn 11 văn bản (7 tấu, 2
phúc tấu, 2 dụ) đề cập trực tiếp đến địa danh Hoàng Sa.
Bản
đồ Việt Nam thời Nguyễn: Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, hai quần đảo ở
Biển Đông được vẽ thành một dải gồm 29 hòn đảo với tên chung “Hoàng Sa –
Vạn Lý Trường Sa” (đăng trong A propos des iles Paraceles của
P.A.Lapique, Saigon, 1929)
1. Hai bản tấu của thủ ngữ Đà Nẵng
ngày 27/6 Minh Mệnh 11 (1830):
Thuyền
buôn của tài phú Pháp Ê-đoa, thuyền trưởng Đô-ô-chi-ly, phái viên Lê
Quang Quỳnh cùng thủy thủ đoàn, ngày 20 rời cảng Đà Nẵng đi Lữ-tống
(Lư-Tông, Luçon) buôn bán. Giờ Dần ngày 27, Ê-đoa và 11 thủy thủ đi trên
chiếc tam bản lớn cập cảng nói rằng: canh 2 đêm 21, ở phía tây Hoàng Sa
(xứ Cát Vàng) thuyền đụng đá ngầm bị ngập nước. Thuyền trưởng và phái
viên còn đi sau. Cảng đã phái thuyền đem theo nước uống cứu hộ, giờ Ngọ
đã gặp và đưa họ về cảng. (Tập Châu bản Minh Mệnh 43, trang 57, 58).
2. Dụ ngày 18/7 Minh Mệnh 16 (1835):
Chuyến
đi Hoàng Sa lần này công vụ hoàn tất. Riêng cai đội Phạm Văn Nguyên
trên đường công hồi đã trì hoãn, có chỉ giao bộ Công trị tội. Nay phạt
80 trượng cho phục chức cai đội. Các tên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn
Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ họa đồ Hoàng Sa chưa chu tất, phạt mỗi
tên 80 trượng. Các tên hướng dẫn hải trình Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh
thưởng mỗi tên một tiểu “Phi long ngân tiền”; binh thợ, dân phu hai tỉnh
Quảng Ngãi, Bình Định đi theo thưởng mỗi tên 1 quan tiền. (Tập Châu bản
Minh Mệnh 54, trang 92).
3. Phúc Tấu của bộ Công
ngày 12/2 Minh Mệnh 17 (1836):
Châu
phê (vua phê): “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài
gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ “Năm Bính Thân
(Minh Mệnh 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc cắm mốc ở
Hoàng Sa để lưu dấu”. Đã phái thủy quân chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhựt
giờ Mão hôm qua đi Ô – thuyền rời Thuận An vào Quảng Ngãi quản suất việc
vãng thám Hoàng Sa kỳ nầy. Bộ đã cho làm đủ số cột mốc gởi gấp vào
Quảng Ngãi. Châu cải (vua sửa lại): “Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thu
ngay, giao cho tên ấy nhận biện”. Châu phê: “Thuyền nào đi tới đâu, cắm
mốc tới đó để lưu dấu”. (Tập Châu bản Minh Mệnh 55, trang 336)
4. Tấu của bộ Hộ ngày 11/7 Minh Mệnh 18 (1837):
Xin
5 ngày cứu xét tấu sách của Quảng Ngãi xin khai tiêu (thanh toán) việc
chi cấp lương tiền cho dân phu công vụ Hoàng Sa. (Tập Châu bản Minh Mệnh
57, trang 211)
5. Tấu của bộ Công ngày 13/7 Minh Mệnh 18 (1837):
Lần
đi Hoàng Sa nầy trở về, trừ bọn Kinh phái thủy sư suất đội Phạm Văn
Biện, tỉnh phái hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, đà công Lưu Đức
Trực khởi hành chậm trễ đã bị xử phạt. Nên chăng chiếu lệ thưởng tặng
cho binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi theo, xin đợi chỉ. (Tập
Châu bản Minh Mệnh 57, trang 244).
6. Dụ ngày 13/7 Minh Mệnh 18 (1837):
Trước
có phái thủy sư, giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi
Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ họa đồ, trừ bọn Phạm Văn Biện gồm 4 tên
can tội đã có chỉ phạt trượng. Còn binh dân đi theo lặn lội biển cả cực
khổ, thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương, dân phu mỗi tên 2 quan
tiền (Tập Châu bản Minh Mệnh 57, trang 245).
7. Tấu của Quảng Ngãi
ngày 19/7 Minh Mệnh 19 (1838):
Xin
chiếu lệ miễn thuế năm nay cho 2 chiếc “Bổn chinh thuyền” đã đưa binh
dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng
6, hoàn tất công vụ nay đã trở về. (Tập Châu bản Minh Mệnh 64, trang
146).
8. Tấu của bộ Công
ngày 2/4 nhuần Minh Mệnh 19 (1838):
Việc
phái vãng để đo đạc giáp vòng Hoàng Sa kỳ năm nay, ấn định khởi hành hạ
tuần tháng 3, nhưng vì gió đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới
hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được, xin tấu trình. (Tập Châu bản
Minh Mệnh 68, trang 21)
9. Phúc Tấu của bộ Công ngày 26/1 Thiệu Trị 7 (1847):
Tháng
6 Thiệu Trị 5 (1845) phụng sắc về việc đình hoãn thám Hoàng Sa. Nay
phúc tấu đợi chỉ có nên thám vãng Hoàng Sa kỳ này hay không? Châu phê:
“Đình hoãn”. (Tập Châu bản Thiệu Trị 41, trang 83).
10. Tấu của bộ Công ngày 28/12 Thiệu Trị 7 (1847):
Hàng
năm, vào mùa xuân theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải
cương nước nhà cho thành thục đường đi lối lại. Năm 1845 có chỉ đình
hoãn kỳ vãng thám 1846. Vì công vụ bận rộn, năm nay cũng xin được đình
hoãn. Châu phê: “Đình hoãn”. (Tập Châu bản Thiệu Trị 51, trang 235).
BÙI ĐẸP st
(Tạp chí Xưa & Nay, số 63B, tháng 5.1999)
VỀ BỨC THƯ
CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG
GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO
TRUNG QUỐC NGÀY 14.9.1958
LƯU VĂN LỢI
Mấy
hôm nay, Bắc Kinh kỷ niệm 50 năm bức thư ngày 14.9.1958 của Thủ tướng
Phạm Văn Đồng. Câu chuyện bức thư của ông Phạm Văn Đồng mà Bắc Kinh lấy
làm nền cho luận điệu Việt Nam dân chủ cộng hòa đã “công nhận” Hoàng Sa
là của Trung Quốc. Nguyên văn bức thư như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý,
Chúng
tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4.9.1958
của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận
của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước
có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc
trong mối quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.
Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Đã ký: Phạm Văn Đồng
Chính phủ Trung Quốc tuyên truyền đây là một “bằng chứng” Việt Nam công nhận quần đảo Hoàng Sa là của Trung Quốc.
Xem
nguyên văn bức thư của ông Phạm Văn Đồng người ta thấy bức thư chỉ có
một nội dung là ủng hộ Trung Quốc quy định hải phận rộng 12 hải lý và
hứa sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm phải tôn trọng
quy định 12 hải lý.
Nội dung đó không hề nói đến
vấn đề lãnh thổ, càng không nói gì đến vấn đề các quần đảo. Nội dung chỉ
có thế, sao lại xuyên tạc là “sự công nhận” Hoàng Sa là của Trung Quốc?
Ý định của ông Phạm Văn Đồng là ủng hộ quyền bảo
vệ an ninh của Trung Quốc. Người ta chưa quên bối cảnh chính trị năm
1958. Khi đó Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc vừa giành được thắng
lợi vĩ đại là đánh bật được Chính phủ Tưởng Giới Thạch thân Mỹ ra Đài
Loan. Mỹ cay cú đe dọa Trung Quốc, cho hạm đội 7 vào eo biển Đài Loan.
Đài Loan chưa rút khỏi Kim Môn, Mã Tổ, hai hòn đảo sát liền địa lục
Trung Hoa và quấy rối Trung Hoa nhân dân. Bấy giờ Trung Hoa nhân dân còn
yếu và đang thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Trên tinh thần hữu
nghị Trung – Việt, ông Phạm Văn Đồng thấy phải ủng hộ quyền của Trung
Hoa nhân dân bảo vệ an ninh của mình và chống thái độ hung hăng của Mỹ
khi đó đã đưa hạm đội 7 vào eo biển Đài Loan. Thật đáng buồn là một cử
chỉ anh em cao cả sau này lại bị Bắc Kinh lợi dụng và xuyên tạc thành
“bằng chứng công nhận” chủ quyền của Trung Quốc. Ông Phạm Văn Đồng không
nói đến vấn đề Nam Sa, Tây Sa vì Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố hai
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam và Hội nghị hòa bình
San Francisco năm 1951 đã bác bỏ yêu cầu của Liên Xô trao Paracels cho
Trung Hoa nhân dân với tỉ lệ áp đảo 46/51. Nếu Bắc Kinh thật lòng muốn
kỷ niệm bức thư của ông Phạm Văn Đồng thì chính phải kỷ niệm tư tưởng
hữu nghị cao cả của bức thư. Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và lịch sử
để chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ lâu thuộc chủ quyền
Việt Nam.
BÙI ĐẸP st
(Tạp chí Xưa & Nay, số 315 – tháng 9.2008