Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

ĐỊA DANH HOÀNG SA TRONG CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN

HẢI ĐƯỜNG
Trong Châu bản Triều Nguyễn, từ năm 1830 – 1847 thuộc các triều Minh Mệnh (1820 – 1840) và Thiệu Trị (1841 – 1847) hiện còn 11 văn bản (7 tấu, 2 phúc tấu, 2 dụ) đề cập trực tiếp đến địa danh Hoàng Sa.
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn: Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, hai quần đảo ở Biển Đông được vẽ thành một dải gồm 29 hòn đảo với tên chung “Hoàng Sa – Vạn Lý Trường Sa” (đăng trong A propos des iles Paraceles của P.A.Lapique, Saigon, 1929)
1. Hai bản tấu của thủ ngữ Đà Nẵng
ngày 27/6 Minh Mệnh 11 (1830):
Thuyền buôn của tài phú Pháp Ê-đoa, thuyền trưởng Đô-ô-chi-ly, phái viên Lê Quang Quỳnh cùng thủy thủ đoàn, ngày 20 rời cảng Đà Nẵng đi Lữ-tống (Lư-Tông, Luçon) buôn bán. Giờ Dần ngày 27, Ê-đoa và 11 thủy thủ đi trên chiếc tam bản lớn cập cảng nói rằng: canh 2 đêm 21, ở phía tây Hoàng Sa (xứ Cát Vàng) thuyền đụng đá ngầm bị ngập nước. Thuyền trưởng và phái viên còn đi sau. Cảng đã phái thuyền đem theo nước uống cứu hộ, giờ Ngọ đã gặp và đưa họ về cảng. (Tập Châu bản Minh Mệnh 43, trang 57, 58).
2. Dụ ngày 18/7 Minh Mệnh 16 (1835):
Chuyến đi Hoàng Sa lần này công vụ hoàn tất. Riêng cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công hồi đã trì hoãn, có chỉ giao bộ Công trị tội. Nay phạt 80 trượng cho phục chức cai đội. Các tên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ họa đồ Hoàng Sa chưa chu tất, phạt mỗi tên 80 trượng. Các tên hướng dẫn hải trình Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh thưởng mỗi tên một tiểu “Phi long ngân tiền”; binh thợ, dân phu hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi theo thưởng mỗi tên 1 quan tiền. (Tập Châu bản Minh Mệnh 54, trang 92).
3. Phúc Tấu của bộ Công
ngày 12/2 Minh Mệnh 17 (1836):
Châu phê (vua phê): “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ “Năm Bính Thân (Minh Mệnh 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu”. Đã phái thủy quân chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhựt giờ Mão hôm qua đi Ô – thuyền rời Thuận An vào Quảng Ngãi quản suất việc vãng thám Hoàng Sa kỳ nầy. Bộ đã cho làm đủ số cột mốc gởi gấp vào Quảng Ngãi. Châu cải (vua sửa lại): “Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thu ngay, giao cho tên ấy nhận biện”. Châu phê: “Thuyền nào đi tới đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu”. (Tập Châu bản Minh Mệnh 55, trang 336)
4. Tấu của bộ Hộ ngày 11/7 Minh Mệnh 18 (1837):
Xin 5 ngày cứu xét tấu sách của Quảng Ngãi xin khai tiêu (thanh toán) việc chi cấp lương tiền cho dân phu công vụ Hoàng Sa. (Tập Châu bản Minh Mệnh 57, trang 211)
5. Tấu của bộ Công ngày 13/7 Minh Mệnh 18 (1837):
Lần đi Hoàng Sa nầy trở về, trừ bọn Kinh phái thủy sư suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phái hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, đà công Lưu Đức Trực khởi hành chậm trễ đã bị xử phạt. Nên chăng chiếu lệ thưởng tặng cho binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi theo, xin đợi chỉ. (Tập Châu bản Minh Mệnh 57, trang 244).
6. Dụ ngày 13/7 Minh Mệnh 18 (1837):
Trước có phái thủy sư, giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ họa đồ, trừ bọn Phạm Văn Biện gồm 4 tên can tội đã có chỉ phạt trượng. Còn binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương, dân phu mỗi tên 2 quan tiền (Tập Châu bản Minh Mệnh 57, trang 245).
7. Tấu của Quảng Ngãi
ngày 19/7 Minh Mệnh 19 (1838):
Xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho 2 chiếc “Bổn chinh thuyền” đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng 6, hoàn tất công vụ nay đã trở về. (Tập Châu bản Minh Mệnh 64, trang 146).
8. Tấu của bộ Công
ngày 2/4 nhuần Minh Mệnh 19 (1838):
Việc phái vãng để đo đạc giáp vòng Hoàng Sa kỳ năm nay, ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được, xin tấu trình. (Tập Châu bản Minh Mệnh 68, trang 21)
9. Phúc Tấu của bộ Công ngày 26/1 Thiệu Trị 7 (1847):
Tháng 6 Thiệu Trị 5 (1845) phụng sắc về việc đình hoãn thám Hoàng Sa. Nay phúc tấu đợi chỉ có nên thám vãng Hoàng Sa kỳ này hay không? Châu phê: “Đình hoãn”. (Tập Châu bản Thiệu Trị 41, trang 83).
10. Tấu của bộ Công ngày 28/12 Thiệu Trị 7 (1847):
Hàng năm, vào mùa xuân theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà cho thành thục đường đi lối lại. Năm 1845 có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám 1846. Vì công vụ bận rộn, năm nay cũng xin được đình hoãn. Châu phê: “Đình hoãn”. (Tập Châu bản Thiệu Trị 51, trang 235).
BÙI ĐẸP st
(Tạp chí Xưa & Nay, số 63B, tháng 5.1999)
VỀ BỨC THƯ
CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG
GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO
TRUNG QUỐC NGÀY 14.9.1958
LƯU VĂN LỢI
Mấy hôm nay, Bắc Kinh kỷ niệm 50 năm bức thư ngày 14.9.1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Câu chuyện bức thư của ông Phạm Văn Đồng mà Bắc Kinh lấy làm nền cho luận điệu Việt Nam dân chủ cộng hòa đã “công nhận” Hoàng Sa là của Trung Quốc. Nguyên văn bức thư như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mối quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.
Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Đã ký: Phạm Văn Đồng
Chính phủ Trung Quốc tuyên truyền đây là một “bằng chứng” Việt Nam công nhận quần đảo Hoàng Sa là của Trung Quốc.
Xem nguyên văn bức thư của ông Phạm Văn Đồng người ta thấy bức thư chỉ có một nội dung là ủng hộ Trung Quốc quy định hải phận rộng 12 hải lý và hứa sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm phải tôn trọng quy định 12 hải lý.
Nội dung đó không hề nói đến vấn đề lãnh thổ, càng không nói gì đến vấn đề các quần đảo. Nội dung chỉ có thế, sao lại xuyên tạc là “sự công nhận” Hoàng Sa là của Trung Quốc?
Ý định của ông Phạm Văn Đồng là ủng hộ quyền bảo vệ an ninh của Trung Quốc. Người ta chưa quên bối cảnh chính trị năm 1958. Khi đó Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc vừa giành được thắng lợi vĩ đại là đánh bật được Chính phủ Tưởng Giới Thạch thân Mỹ ra Đài Loan. Mỹ cay cú đe dọa Trung Quốc, cho hạm đội 7 vào eo biển Đài Loan. Đài Loan chưa rút khỏi Kim Môn, Mã Tổ, hai hòn đảo sát liền địa lục Trung Hoa và quấy rối Trung Hoa nhân dân. Bấy giờ Trung Hoa nhân dân còn yếu và đang thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Trên tinh thần hữu nghị Trung – Việt, ông Phạm Văn Đồng thấy phải ủng hộ quyền của Trung Hoa nhân dân bảo vệ an ninh của mình và chống thái độ hung hăng của Mỹ khi đó đã đưa hạm đội 7 vào eo biển Đài Loan. Thật đáng buồn là một cử chỉ anh em cao cả sau này lại bị Bắc Kinh lợi dụng và xuyên tạc thành “bằng chứng công nhận” chủ quyền của Trung Quốc. Ông Phạm Văn Đồng không nói đến vấn đề Nam Sa, Tây Sa vì Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam và Hội nghị hòa bình San Francisco năm 1951 đã bác bỏ yêu cầu của Liên Xô trao Paracels cho Trung Hoa nhân dân với tỉ lệ áp đảo 46/51. Nếu Bắc Kinh thật lòng muốn kỷ niệm bức thư của ông Phạm Văn Đồng thì chính phải kỷ niệm tư tưởng hữu nghị cao cả của bức thư. Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và lịch sử để chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ lâu thuộc chủ quyền Việt Nam.
BÙI ĐẸP st
(Tạp chí Xưa & Nay, số 315 – tháng 9.2008

CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN & những chứng cứ lịch sử – pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với HOÀNG SA – TRƯỜNG SA

PHAN HUY LÊ
I. Châu bản triều Nguyễn, một kho tư liệu lịch sử vô giá.
Châu bản triều Nguyễn, đúng như tên gọi của nó, là những văn thư trình lên nhà vua phê duyệt, mang dấu “ngự phê”, “ngự lãm” bằng màu son đỏ của Hoàng đế và đóng ấn tín của Hoàng đế cùng các cơ quan của triều đình nhà Nguyễn. Dấu ấn “ngự phê”, “ngự lãm” gồm nhiều loại hình khác nhau từ “Châu phê” có thể bằng một đoạn văn hay vài ba từ ngắn gọn như “Tri đạo liễu” (Biết cho), “Y tấu” (Y theo lời tâu), “Hảo” (Biết cho), đến “Châu khuyên” là vòng son đỏ điểm lên tên người hay sự việc mà nhà vua lựa chọn, “Châu điểm” là chấm son đỏ chấm lên đầu văn bản mà nhà vua chấp thuận, “Châu mạt” là nét son quẹt lên tên người hay sự việc không được nhà vua chấp thuận, “Châu cải”, “Châu sổ” là nét son gạch sổ lên những chỗ biểu thị sự phủ nhận hay cần chữa lại.
Tất cả những văn bản này do một cơ quan giữ vai trò như Văn phòng của Hoàng đế đảm nhiệm. Thời Gia Long (1802 – 1819) lúc đầu do Thị thư viện, Thị hàn viện, Nội hàn viện chuyên trách, sang thời Minh Mệnh (1820 – 1840) đổi thành Văn thư phòng rồi năm 1829 chuyển cho Nội các với chức năng “giữ sổ sách và chầu hầu tả hữu”. Trải qua triều vua Minh Mệnh, Thiệu Trị (1841 – 1847), tổ chức của Nội các với các cơ quan chuyên trách và số lượng quan chức, nhân viên có nhiều thay đổi theo hướng quy định chặt chẽ nhiệm vụ văn thư và lưu trữ của triều đình. Trong thời Pháp thuộc, Nam triều mất dần các quyền lực và năm 1933, vua Bảo Đại bỏ Nội các, lập một văn phòng mang tên Ngự tiền văn phòng.
Trong 143 năm tồn tại (1802 – 1945), kho tàng Châu bản triều Nguyễn hẳn rất đồ sộ. Nhưng rất tiếc là qua những biến cố lịch sử, qua chiến tranh và những tác động của thời gian, khí hậu, khối lượng Châu bản bị mất mát, hư hỏng khá nhiều. Hiện nay kho Châu bản triều Nguyễn do Trung tâm Lưu trữ quốc gia I thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước bảo quản. Theo kết quả kiểm kê năm 2012, các tờ Châu bản đóng thành 773 tập, gồm khoảng 85.000 văn bản. Ngoài ra còn khoảng hơn 3.000 tờ bị kết dính chưa được xử lý.
Châu bản triều Nguyễn gồm nhiều thể loại văn thư từ chiếu, chỉ, dụ,… đến khải, biểu, tấu, trình,… Trừ một số bản “phụng sao”, phần lớn là nguyên bản, bản gốc với nguyên dấu “Ngự phê”, “Ngự lãm” và ấn tín hoặc có dấu “Ngự phê” hoặc có ấn tín. Đây là một kho tàng tư liệu gốc rất quý giá, phản ánh trung thực tư tưởng chính trị cùng chủ trương, đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại của triều Nguyễn. Ngoài các văn bản từ nhà vua ban xuống, trong kho tàng Châu còn có loại tấu, khải, trình,… do các cơ quan của triều đình, các địa phương tâu lên xin ý kiến nhà vua. Loại văn bản này phản ánh khá khách quan cả tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội đa dạng của đất nước từ tình trạng mùa màng, thủy lợi, công thương nghiệp, đời sống người dân, các cuộc bạo loạn,… đến những vụ khiếu kiện, những hiện tượng tham những, việc thuyên chuyển, thăng giáng quan lại các cấp, những thay đổi trong bộ máy nhà nước và triều chính… Đây là một nguồn sử liệu gốc vô cùng quý giá phản ánh tổ chức và hoạt động của vương triều Nguyễn, tình hình mọi mặt của đất nước.
Châu bản là loại văn thư có dấu phê duyệt của Hoàng đế và ấn tín các cơ quan nhà nước, thuộc loại độc bản, quý hiếm, văn bản gốc với tính xác thực cao và giá trị thông tin về nhiều mặt, phản ảnh trung thực tình hình đối nội, đối ngoại của vương triều Nguyễn, trong đó có quan hệ giao lưu với nước ngoài. Do những giá trị xác thực đó và những ý nghĩa mang giá trị quốc tế, ngày 14/5/2014 UNESCO đã công nhận Châu bản triều Nguyễn là Di sản Tư liệu thế giới, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
II. Những Châu bản liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa
Từ mấy năm nay, nhiều nhà khoa học nghiên cứu về hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa đã chú ý khai thác kho Châu bản triều Nguyễn.
Website “Biên giới lãnh thổ” và Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Ủy ban Biên giới quốc gia xuất bản, đã giới thiệu 19 văn bản Châu bản triều Nguyễn liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa. Trong số đó, văn bản 1 là bản tâu trình về việc chọn người sung vào Quốc sử quán và sự phê chuẩn của nhà vua, hoàn toàn không liên quan đến chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, còn lại 18 văn bản. Ngoài ra, nhà sử học Phan Thuận An ở Huế đem một tờ Châu bản ngày 15/12 năm Bảo Đại thứ 13 (15.12.1939) do gia đình lưu giữ trao tặng Bộ Ngoại giao. Như vậy cho đến nay, có cả thảy 19 đơn vị Châu bản triều Nguyễn liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được phát hiện và công bố.
Trong số 19 đơn vị Châu bản liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa, tôi chỉ nghiên cứu 18 văn bản thời Nguyễn trước thời Pháp thuộc, khi triều Nguyễn là một quốc gia độc lập tiêu biểu chủ quyền quốc gia. 18 văn bản này gồm 16 văn bản thời vua Minh Mệnh (các năm 1830, 1833, 1834, 1835, 1836, 1837, 1838) và 2 văn bản thời vua Thiệu Trị (năm 1847), trong khoảng thời gian từ 1830 đến 1847. Hai tờ Châu bản thời Thiệu Trị cho biết từ năm Thiệu Trị 5 (1845) đã hoãn việc phái thuyền ra Hoàng Sa, chờ năm sau phúc trình lại. Năm Thiệu Trị 7 (1847) Bộ Công tâu vì việc công quá bề bộn, xin dừng lại, đợi năm sau phúc trình lại (Châu bản 17, 18). Sau đó, chưa tìm thấy Châu bản tiếp theo. Vì vậy, tôi sử dụng cả 18 tờ Châu bản, nhưng tập trung khảo cứu 16 tờ Châu bản thời Minh Mệnh.
Trong khi nghiên cứu những văn bản này, tôi kết hợp với những tư liệu tương ứng và liên quan trong các nguồn tư liệu khác của nhà Nguyễn, quan trọng nhất là Đại Nam thực lực, Tiền biên và Chính biên, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Đại Nam nhất thống chí.
BÙI ĐẸP st
(Tạp chí Xưa & Nay, số 449, tháng 7.2014)