PHAN HUY LÊ
I. Châu bản triều Nguyễn, một kho tư liệu lịch sử vô giá.
Châu
bản triều Nguyễn, đúng như tên gọi của nó, là những văn thư trình lên
nhà vua phê duyệt, mang dấu “ngự phê”, “ngự lãm” bằng màu son đỏ của
Hoàng đế và đóng ấn tín của Hoàng đế cùng các cơ quan của triều đình nhà
Nguyễn. Dấu ấn “ngự phê”, “ngự lãm” gồm nhiều loại hình khác nhau từ
“Châu phê” có thể bằng một đoạn văn hay vài ba từ ngắn gọn như “Tri đạo
liễu” (Biết cho), “Y tấu” (Y theo lời tâu), “Hảo” (Biết cho), đến “Châu
khuyên” là vòng son đỏ điểm lên tên người hay sự việc mà nhà vua lựa
chọn, “Châu điểm” là chấm son đỏ chấm lên đầu văn bản mà nhà vua chấp
thuận, “Châu mạt” là nét son quẹt lên tên người hay sự việc không được
nhà vua chấp thuận, “Châu cải”, “Châu sổ” là nét son gạch sổ lên những
chỗ biểu thị sự phủ nhận hay cần chữa lại.
Tất
cả những văn bản này do một cơ quan giữ vai trò như Văn phòng của Hoàng
đế đảm nhiệm. Thời Gia Long (1802 – 1819) lúc đầu do Thị thư viện, Thị
hàn viện, Nội hàn viện chuyên trách, sang thời Minh Mệnh (1820 – 1840)
đổi thành Văn thư phòng rồi năm 1829 chuyển cho Nội các với chức năng
“giữ sổ sách và chầu hầu tả hữu”. Trải qua triều vua Minh Mệnh, Thiệu
Trị (1841 – 1847), tổ chức của Nội các với các cơ quan chuyên trách và
số lượng quan chức, nhân viên có nhiều thay đổi theo hướng quy định chặt
chẽ nhiệm vụ văn thư và lưu trữ của triều đình. Trong thời Pháp thuộc,
Nam triều mất dần các quyền lực và năm 1933, vua Bảo Đại bỏ Nội các, lập
một văn phòng mang tên Ngự tiền văn phòng.
Trong
143 năm tồn tại (1802 – 1945), kho tàng Châu bản triều Nguyễn hẳn rất
đồ sộ. Nhưng rất tiếc là qua những biến cố lịch sử, qua chiến tranh và
những tác động của thời gian, khí hậu, khối lượng Châu bản bị mất mát,
hư hỏng khá nhiều. Hiện nay kho Châu bản triều Nguyễn do Trung tâm Lưu
trữ quốc gia I thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước bảo quản. Theo kết
quả kiểm kê năm 2012, các tờ Châu bản đóng thành 773 tập, gồm khoảng
85.000 văn bản. Ngoài ra còn khoảng hơn 3.000 tờ bị kết dính chưa được
xử lý.
Châu bản
triều Nguyễn gồm nhiều thể loại văn thư từ chiếu, chỉ, dụ,… đến khải,
biểu, tấu, trình,… Trừ một số bản “phụng sao”, phần lớn là nguyên bản,
bản gốc với nguyên dấu “Ngự phê”, “Ngự lãm” và ấn tín hoặc có dấu “Ngự
phê” hoặc có ấn tín. Đây là một kho tàng tư liệu gốc rất quý giá, phản
ánh trung thực tư tưởng chính trị cùng chủ trương, đường lối và các
chính sách đối nội, đối ngoại của triều Nguyễn. Ngoài các văn bản từ nhà
vua ban xuống, trong kho tàng Châu còn có loại tấu, khải, trình,… do
các cơ quan của triều đình, các địa phương tâu lên xin ý kiến nhà vua.
Loại văn bản này phản ánh khá khách quan cả tình hình kinh tế, văn hóa,
xã hội đa dạng của đất nước từ tình trạng mùa màng, thủy lợi, công
thương nghiệp, đời sống người dân, các cuộc bạo loạn,… đến những vụ
khiếu kiện, những hiện tượng tham những, việc thuyên chuyển, thăng giáng
quan lại các cấp, những thay đổi trong bộ máy nhà nước và triều chính…
Đây là một nguồn sử liệu gốc vô cùng quý giá phản ánh tổ chức và hoạt
động của vương triều Nguyễn, tình hình mọi mặt của đất nước.
Châu
bản là loại văn thư có dấu phê duyệt của Hoàng đế và ấn tín các cơ quan
nhà nước, thuộc loại độc bản, quý hiếm, văn bản gốc với tính xác thực
cao và giá trị thông tin về nhiều mặt, phản ảnh trung thực tình hình đối
nội, đối ngoại của vương triều Nguyễn, trong đó có quan hệ giao lưu với
nước ngoài. Do những giá trị xác thực đó và những ý nghĩa mang giá trị
quốc tế, ngày 14/5/2014 UNESCO đã công nhận Châu bản triều Nguyễn là Di
sản Tư liệu thế giới, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
II. Những Châu bản liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa
Từ
mấy năm nay, nhiều nhà khoa học nghiên cứu về hai quần đảo Hoàng Sa –
Trường Sa đã chú ý khai thác kho Châu bản triều Nguyễn.
Website
“Biên giới lãnh thổ” và Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi
chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Ủy
ban Biên giới quốc gia xuất bản, đã giới thiệu 19 văn bản Châu bản triều
Nguyễn liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa. Trong số đó, văn bản 1 là bản
tâu trình về việc chọn người sung vào Quốc sử quán và sự phê chuẩn của
nhà vua, hoàn toàn không liên quan đến chủ quyền đối với hai quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa, còn lại 18 văn bản. Ngoài ra, nhà sử học Phan Thuận
An ở Huế đem một tờ Châu bản ngày 15/12 năm Bảo Đại thứ 13 (15.12.1939)
do gia đình lưu giữ trao tặng Bộ Ngoại giao. Như vậy cho đến nay, có cả
thảy 19 đơn vị Châu bản triều Nguyễn liên quan đến chủ quyền của Việt
Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được phát hiện và công
bố.
Trong số 19 đơn
vị Châu bản liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa, tôi chỉ nghiên cứu 18
văn bản thời Nguyễn trước thời Pháp thuộc, khi triều Nguyễn là một quốc
gia độc lập tiêu biểu chủ quyền quốc gia. 18 văn bản này gồm 16 văn bản
thời vua Minh Mệnh (các năm 1830, 1833, 1834, 1835, 1836, 1837, 1838) và
2 văn bản thời vua Thiệu Trị (năm 1847), trong khoảng thời gian từ 1830
đến 1847. Hai tờ Châu bản thời Thiệu Trị cho biết từ năm Thiệu Trị 5
(1845) đã hoãn việc phái thuyền ra Hoàng Sa, chờ năm sau phúc trình lại.
Năm Thiệu Trị 7 (1847) Bộ Công tâu vì việc công quá bề bộn, xin dừng
lại, đợi năm sau phúc trình lại (Châu bản 17, 18). Sau đó, chưa tìm thấy
Châu bản tiếp theo. Vì vậy, tôi sử dụng cả 18 tờ Châu bản, nhưng tập
trung khảo cứu 16 tờ Châu bản thời Minh Mệnh.
Trong
khi nghiên cứu những văn bản này, tôi kết hợp với những tư liệu tương
ứng và liên quan trong các nguồn tư liệu khác của nhà Nguyễn, quan trọng
nhất là Đại Nam thực lực, Tiền biên và Chính biên, Đại Nam liệt truyện,
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Đại Nam nhất thống chí.
BÙI ĐẸP st
(Tạp chí Xưa & Nay, số 449, tháng 7.2014)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét